- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ông Hoàng Văn L được ly hôn với bà Hồ Thị V"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn L.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 45/2023/HNGĐ-ST Ngày 27/09/2023. “V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Long.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Thế Hằng và ông Lê Khắc Dũng.
- Thư ký phiên tòa: ông Phan Hoài Đông - Thư ký Tòa án nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 09 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ea Kar xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 233/2023/TLST-HNGĐ ngày 13/06/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 08 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 36/2023 ngày 11 tháng 09 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hoàng Văn L; Địa chỉ: Thôn S, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Hồ Thị V; Địa chỉ: Thôn S, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Hoàng Văn L trình bày: Ông Hoàng Văn L và bà Hồ Thị V sau một thời gian tự nguyện tìm hiểu thì tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 07/08/2018. Trong quá trình chung sống đến đầu năm 2021 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do cả hai bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng không tin tưởng nhau nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vả mặc dù hai vợ chồng đã cố gắng chung sống để nuôi dạy con nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không cải thiện được từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng thêm. Do không thể tiếp tục chung sống với nhau nên vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2021 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy ông L yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với bà V.
Về con chung: Ông L và bà V có 01 con chung là Hoàng Ngọc M, sinh ngày 27/02/2019, hiện đang ở với ông L, nguyện vọng của ông L là được tiếp tục nuôi con chung cho đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu bà V cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: ông L không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Bị đơn bà Hồ Thị V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không tham gia giải quyết vụ án. Vì vậy Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn và cũng không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn ông Hoàng Văn L có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn bà Hồ Thị V vắng mặt lần thứ hai. Ông Hoàng Văn L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho ông được ly hôn với bà V. Ông L có nguyện vọng được quyền nuôi dưỡng con chung Hoàng Ngọc M cho đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu bà V phải cấp dưỡng tiền nuôi con đồng thời không yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung và nợ chung.
* Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đều thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà Hồ Thị V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các quyết định tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do là vi phạm các quy định tại Điều 70, 72, và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS).
Về nội dung: Do yêu cầu của nguyên đơn có căn cứ, nên đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông L, xử cho ông Hoàng Văn L ly hôn với bà Hồ Thị V. Giao cho ông L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Hoàng Ngọc M, sinh ngày 27/02/2019 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi; ông L không yêu cầu cấp dưỡng nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn ông Hoàng Văn L yêu cầu Tòa án giải quyết về việc ly hôn, nuôi con với bị đơn bà Hồ Thị V cư trú tại xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk theo khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về thủ tục mở phiên tòa vắng mặt các đương sự: Quá trình tố tụng, bị đơn bà Hồ Thị V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, nguyên đơn ông Hoàng Văn L có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị V và ông Hoàng Văn L tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 07/08/2018, đây là hôn nhân hợp pháp. Theo ông L trong cuộc sống hôn nhân vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do cả hai bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng không tin tưởng nhau nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi, do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng cuối năm 2021 cho đến nay, không còn quan tâm nhau nữa. Xét thấy, cuộc sống chung vợ chồng không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông L có nguyện vọng được ly hôn với bà V.
Qua xác minh tại chính quyền địa phương xác định trong thời gian chung sống tại địa phương vợ chồng ông L bà V có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, hiện nay vợ chồng không còn chung sống với nhau.
Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn L.
- Về con chung: Ông L và bà V có một con chung là Hoàng Ngọc M, sinh ngày 27/02/2019. Qua lời khai của ông L và kết quả xác minh tại chính quyền địa phương thì hiện nay con chung đang ở với ông L, ông L hiện đang sinh sống và làm việc tại địa phương, có thu nhập, chỗ ở ổn định, có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Do đó, để đảm bảo quyền lợi ích về mọi mặt của con chung, căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 giao con chung Hoàng Ngọc M, sinh ngày 27/02/2019 cho ông L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nên HĐXX không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Nguyên đơn ông Hoàng Văn L phải chịu 300.000đồng tiền án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.
Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn L.
1. Về quan hệ hôn nhân: ông Hoàng Văn L được ly hôn với bà Hồ Thị V.
2. Về con chung: Giao con chung là Hoàng Ngọc M, sinh ngày 27/02/2019 cho ông Hoàng Văn L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
Bà Hồ Thị V được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Tuy nhiên, bà V không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc tranh nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Ông Hoàng Văn L phải chịu 300.000đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng mà ông L đã nộp tạm ứng án phí, theo biên lai thu tiền số AA/2022/0001099 ngày 13/06/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện EaKar.
5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
| Nơi nhận: -TAND tỉnh ĐắkLắk; -VKSND huyện EaKar; -THADS huyện EaKar; - UBND xã C, huyện E; -Đương sự; -Lưu HS. | (Đã ký) Hoàng Long |