vanban.org

Bản án 45/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Ng được ly hôn anh Nguyễn Đình L .

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng L Đ , sinh ngày 27/01/2015 và Nguyễn Ngọc Ch A , sinh ngày 28/3/2017; cháu Nguyễn Ngọc L Ch sinh ngày 15/9/2019 cho chị Nguyễn Thị Ng chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành. Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh L . Sau khi ly hôn, ngườ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án dân sự thụ lý số 382/2022/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2022"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Ng được ly hôn anh Nguyễn Đình L .
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DIỄN CHÂU
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:45/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 07/8/2023
"V/v: “Tranh chấp hôn nhân gia đình"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Phạm Thái Dương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Nguyễn Văn Dũng

2. Ông: Nguyễn Thế Anh

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Xuân Quảng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Hân – Chức vụ; Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn châu, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 382/2022/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2022 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:74/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2023; quyết định hoãn phiên tòa số 45/2023/QĐ – ST ngày 19 tháng 5 năm 2023 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2023/ QĐXXST - HNGĐ ngày 02/6/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 120/2023/QĐ – ST ngày 08 tháng 7 năm 2023 của tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ng , sinh năm 1998.

Trú tại: xóm 9, xã D T, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Đình L , sinh năm 1987.

Địa chỉ: xóm 9, xã D T, huyện Diễn Châu, Nghệ An. vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 15 tháng 10 năm 2022 và lời khai tại bản khai có tại hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ng trình bày: Chị Ng và anh Nguyễn Đình L đăng ký kết hôn vào ngày 09/5/2017 tại UBND xã D T, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, theo giấy đăng ký kết hôn số 25/2017 quyển số 01/2017. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sống chung được bốn năm thì hai người phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là khi anh L không tu chí làm kinh tế và không chăm lo xây dựng cuộc sống gia đình, chị Ng và anh L nhiều lần cải vả xích mích làm ảnh hưởng đến cuộc sống của gia đình, anh L vào miền nam làm ăn không quan tâm vợ con, thỉnh thoảng tết mới về. Chị Ng và anh L đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay không còn đi lại, quan tâm chăm sóc nhau. Nay chị Ng đề nghị tòa án nhân dân huyện Diễn Châu giải quyết ly hôn giữa chị Ng và anh L .

- Về con chung: Quá trình chung sống hai người có ba con chung Nguyễn Hoàng L Đ , sinh ngày 27/01/2015 và Nguyễn Ngọc Ch A , sinh ngày 28/3/2017, cháu Nguyễn Ngọc L Ch sinh ngày 15/9/2019. Hiện các cháu đang ở với bà ngoại và chị Ng nên chị Ng đề nghị được chăm sóc nuôi dưỡng, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Quá trình chung sống hai người có lập được một khối tài sản nhỏ. Không yêu cầu tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên Toà sơ thẩm nguyên đơn có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, có mặt tại phiên họp tiếp cận công khai kiểm tra chứng cứ và phiên hòa giải tiến hành các bước thu thập chứng cứ, hòa giải theo quy định pháp luật. Bị đơn anh Nguyễn Đình L mặc dù Tòa án đã thông báo, giao giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác đúng quy định Pháp luật nhưng anh L không có mặt tại địa phương để nhận các văn bản tố tụng, Tòa án đã niêm yết tại gia đình anh L và UBND xã D T, anh L không đến Tòa án làm việc, anh L không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không có mặt tại phiên họp tiếp cận công khai kiểm tra chứng cứ và phiên hòa giải.Tại phiên tòa lần thứ nhất anh L vắng mặt mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản Tố tụng hợp pháp, phiên Tòa lần thứ hai anh L tiếp tục vắng mặt. Xét thấy anh L không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân này, anh L bỏ mặc không cần xem hậu quả của việc ly hôn, cần xét xử vắng mặt anh L theo quy định của Pháp luật.

Phát biểu ý kiến tại phiên tòa, Kiểm sát viên đánh giá trong quá trình giải quyết vụ án, và tại phiên tòa Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng, đầy đủ quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử. Hội đồng xét xử cũng đã tuân theo đúng quy định của pháp luật trong quá trình xét xử, không có vi phạm về thủ tục.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến trình bày của nguyên đơn ý kiến trình bày của kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 8 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. Khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn. chấp hành theo quyết định của tòa án, ccủủaa Cơ quan tiến hành tố tụng tại phiên tòa thứ nhất nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt, phiên tòa thứ hai nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Đình L vắng mặt nên áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Đình L .

Về tình trạng hôn nhân: Căn cứ vào tài liệu có tại hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự và các tài liệu do tòa án thu thập được có đủ căn cứ xác định: Chị Nguyễn Thị Ng và anh Nguyễn Đình L đăng ký kết hôn vào ngày 09/5/2017 tại UBND xã D T, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, theo giấy đăng ký kết hôn số 25/2017 quyển số 01/2017. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Chung sống đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không hợp tính tình, bất hòa với nhau. Hai người sống không có tình cảm, không có tiếng nói chung. Hai người hay va chạm, xúc phạm lẫn nhau làm ảnh hưởng đến các con và hàng xóm. Mâu thuẫn hai người có hòa giải, trao đổi nhưng không có kết quả. Đến nay hai người sống ly thân từ năm 2019, không còn đi lại, quan tâm nhau. Nay chị Nguyễn Thị Ng yêu cầu tòa án giải quyết cho anh được ly hôn anh Nguyễn Đình L , là có căn cứ cần được chấp nhận.

Về con chung: Quá trình chung sống hai người có ba con chung Nguyễn Hoàng L Đ , sinh ngày 27/01/2015 và Nguyễn Ngọc Ch A , sinh ngày 28/3/2017;; cháu Nguyễn Ngọc L Ch sinh ngày 15/9/2019. Xét thấy tại phiên tòa hôm nay vắng mặt anh L ; chị Ng có nguyện vọng giao ba con chung cho chị được chăm sóc giáo dục, các cháu đang ăn học ổn định cùng chị Ng và ông bà ngoại tại xóm 9, xã D T, huyện Diễn Châu, Nghệ An, xét thấy không cần tách các cháu hai nơi làm ảnh hưởng đến tâm lý phát triển của các cháu, cháu L Đ đã gửi đến Tòa án hai bản nguyện vọng được ở với mẹ, vì vậy việc giao con cho chị Ng là có cơ sở pháp lý. Chị Ng có trách nhiệm chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục hai cháu đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con chung, từ lâu nay anh L không đóng góp bất cứ khoản nào cho chị Ng chăm sóc nuôi dưỡng hai con, chị Ng không yêu cầu giải quyết, Tòa án quyết định tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh L .

Về quan hệ tài sản chung và các quyền nghĩa vụ L quan đến tài sản, vay nợ chung của vợ chồng: Trong vụ án này chị Nguyễn Thị Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Tòa án không xem xét, anh L vắng mặt và Tòa án không nhận được ý kiến gì về mối quan hệ này, nếu có thì anh L có thể khởi kiện bằng một vụ án khác.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ng phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ: vào khoản 3 điều 144, khoản 4 điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 khoản 3 điều 228 ; Điều 266, 271 khoản 1 điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào Điều 51; 54; 56; khoản 1 Điều 59; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí của tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Ng được ly hôn anh Nguyễn Đình L .

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng L Đ , sinh ngày 27/01/2015 và Nguyễn Ngọc Ch A , sinh ngày 28/3/2017; cháu Nguyễn Ngọc L Ch sinh ngày 15/9/2019 cho chị Nguyễn Thị Ng chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành. Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh L .

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích mọi mặt của con thì các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con và yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về quan hệ tài sản chung và các quyền nghĩa vụ L quan đến tài sản, vay nợ chung của vợ chồng: Không giải quyết

4. Án phí: Áp dụng điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, buộc chị Nguyễn Thị Ng phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào khoản tiền dự phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu theo biên lai số 0002094 ngày 12/12/2022. Chị Nguyễn Thị Ng đã nộp đủ án phí DSST.

5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo lên tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ