vanban.org

Bản án 45/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Minh T đối với bị đơn chị Lê Thị Thanh H1 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

Về hôn nhân: cho ly hôn giữa anh Nguyễn Minh T và chị Lê Thị Thanh H1. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Lê Hà M, sinh ngày 21/9/2015 và cháu Nguyễn Phúc A, sinh ngày 17/4/2020 cho chị Lê Thị Thanh H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Lê Thị Thanh H1 không yêu anh Nguyễn Minh T cấp dưỡng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn giữa anh Nguyễn Minh T và chị Lê Thị Thanh H1"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Minh T đối với bị đơn chị Lê Thị Thanh H1 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÀU BÀNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 07-9-2023
V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Tuyết Nhung.

Ông Nguyễn Văn Độ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 116/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2023 về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 79/2023/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1990; nơi cư trú: TDP H, thị trấn P, huyện C, tỉnh Thanh Hóa, có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Chí H, Luật sư Văn phòng Luật sư Hải Nguyễn thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B; vắng mặt (có đơn chấm dứt bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn ngày 08-8-2023).

- Bị đơn: Chị Lê Thị Thanh H1, sinh năm 1988; nơi cư trú: Ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 11-5-2023, bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Minh T, trình bày:

Anh Nguyễn Minh T chung sống với chị Lê Thị Thanh H1 từ năm 2015, hôn nhân có tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 09, ngày 02-3-2015. Vợ chồng chung sống không hạnh phúc thường phát sinh mâu thuẫn do không hòa hợp, bất đồng quan điểm với nhau trong vấn đề tình cảm, vợ chồng thường xuyên cải vả, mâu thuẫn càng ngày càng trầm trọng, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau.

Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh T yêu cầu được ly hôn với chị H1. Về con chung: vợ chồng có hai con chung tên Nguyễn Phúc A, sinh ngày 17/4/2020 và Nguyễn Lê Hà M, sinh ngày 21/9/2015. Khi ly hôn, anh T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu A và cháu M, không yêu cầu chị H1 cấp dưỡng nuôi con. Hiện tại, cháu A và cháu M đang ở cùng với chị H1 tại huyện B, tỉnh Bình Dương. Anh T là công nhân tại Công ty TNHH D, thu nhập mỗi tháng là 15.000.000 đồng. Về tài sản chung, nợ chung: không tranh chấp về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn là chị Lê Thị Thanh H1 trình bày:

Chị Lê Thị Thanh H1 thống nhất với lời trình bày của anh T về quan hệ hôn nhân, con chung, mâu thuẫn vợ chồng.

Nay, trước yêu cầu xin ly hôn của anh T thì chị H1 đồng ý ly hôn. Về con chung: vợ chồng có hai con chung tên Nguyễn Phúc A, sinh ngày 17/4/2020 và Nguyễn Lê Hà M, sinh ngày 21/9/2015. Khi ly hôn, chị H1 yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu A và cháu M, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay, cháu A và cháu M đang ở cùng với chị H1 và ông bà ngoại và học tập tại huyện B, tỉnh Bình Dương. Chị H1 có thu nhập ổn định vì chị H1 là công nhân tại Công ty TNHH MTV T1, dịc vụ và chăn nuôi Phát Tài Đ, thu nhập mỗi tháng là 19.500.000 đồng, bao gồm lương cơ bản và phụ cấp. Về tài sản chung, nợ chung: không tranh chấp về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: nguyên đơn vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện; bị đơn vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày.

Đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý đúng quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các Điều 95 đến Điều 98 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự đúng quy định tại Điều 195, 196 Bộ luật Tố tụng dân sự. Thời hạn chuẩn bị xét xử Thẩm phán thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 63, 239, 243, 249, 258, 260 Bộ luật Tố tụng dân sự, Thư ký đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 51, 237 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: trong quá trình chung sống giữa anh T và chị H1 đã có phát sinh mâu thuẫn, xảy ra bạo lực gia đình, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình: chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn đối với bị đơn. Về con chung: anh T và chị H1 đều có khả năng nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên tại phiên tòa anh T xác định đã về Thanh Hóa từ cuối năm 2020 cho tới nay. Trong thời gian này cháu Hà M và cháu Phúc A sinh sống cùng mẹ là chị H1, anh T không cấp dưỡng nuôi con. Cả anh T và chị H1 đều có thu nhập ổn định có thể chăm sóc và nuôi dưỡng con tuy nhiên hai cháu Hà M và Phúc A hiện đang sinh sống ổn định cùng chị H1, chị H1 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tại biên bản lấy lời khai của cháu M thể hiện cháu M mong muốn được sống chung với mẹ. Riêng cháu Phúc A hiện tại cháu được (03 tuổi 05 tháng) còn nhỏ, chị H1 đã chăm sóc cháu từ nhỏ bởi vậy không cần thiết thay đổi môi trường nuôi dưỡng. Chị H1 có đủ năng lực để nuôi dưỡng các cháu nên người nên việc giao con cho chị H1 chăm sóc là phù hợp. Căn cứ khoản 1 và 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao hai cháu M và Anh cho chị H1 chăm sóc, ông T không phải cấp dưỡng nuôi hai cháu. Từ những phân tích đánh giá nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương nhận định:

Về tố tụng: yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Minh T về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Bị đơn là chị Lê Thị Thanh H1 có nơi cư trú tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Anh Nguyễn Minh T chung sống với chị Lê Thị Thanh H1 từ năm 2015, hôn nhân có tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 09, ngày 02-3-2015. Sau thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do vấn đề tình cảm, kinh tế, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc (theo biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 20-6-2023 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng). Chị H1 đồng ý ly hôn với anh T. Tại phiên tòa, các đương sự thừa nhận vợ chồng có xảy ra hành vi bạo lực gia đình trong quá trình chung sống. Do đó, có cơ sở xác định: anh T và chị H1 không còn thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; không còn cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, vợ chồng có hành vi bạo lực gia đình, đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Anh T yêu cầu ly hôn với chị H1 là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: trong quá trình chung sống, anh T và chị H1 có hai con chung là cháu Nguyễn Lê Hà M, sinh ngày 21/9/2015 và Nguyễn Phúc A, sinh ngày 17/4/2020. Khi ly hôn, anh T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Lê Hà M, sinh ngày 21/9/2015 và Nguyễn Phúc A, sinh ngày 17/4/2020, không yêu cầu cấp dưỡng cho con. Chị H1 cũng yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Lê Hà M, sinh ngày 21/9/2015 và Nguyễn Phúc A, sinh ngày 17/4/2020, không yêu cầu cấp dưỡng cho con. Xét cháu Nguyễn Lê Hà M, sinh ngày 21/9/2015 có nguyện vọng được chị H1 chăm sóc nuôi dưỡng (tại biên bản lấy lời khai đề ngày 16-6-2023) và Nguyễn Phúc A, sinh ngày 17/4/2020 hiện chỉ hơn 03 tuổi nên cần có sự chăm sóc của người mẹ, cháu Phúc A cũng chỉ do chị H1 chăm sóc từ cuối năm 2020 cho đến nay. Chị H1 thu nhập ổn định, đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung. Tuy anh T cũng có thu nhập ổn định nhưng anh T đã không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho các con từ cuối năm 2020 cho đến nay, anh T có trình bày là nếu giao con chung cho anh T thì anh T sẽ cho các cháu về Thanh Hóa sinh sống và học tập. Tuy nhiên, các cháu M và Phúc A còn nhỏ, việc thay đổi môi trường sống có thể ảnh hưởng đến các cháu. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ giao cháu Nguyễn Lê Hà M, sinh ngày 21/9/2015 và Nguyễn Phúc A, sinh ngày 17/4/2020 cho chị H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chị H1 không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về chia tài sản chung, nợ chung: các đương sự không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: nguyên đơn anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự,

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Luật Phí và Lệ phí, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Minh T đối với bị đơn chị Lê Thị Thanh H1 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

- Về hôn nhân: cho ly hôn giữa anh Nguyễn Minh T và chị Lê Thị Thanh H1.

- Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Lê Hà M, sinh ngày 21/9/2015 và cháu Nguyễn Phúc A, sinh ngày 17/4/2020 cho chị Lê Thị Thanh H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Lê Thị Thanh H1 không yêu anh Nguyễn Minh T cấp dưỡng cho con.

Người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

- Về chia tài sản chung, nợ chung: các đương sự không tranh chấp về tài sản chung, nợ chung nên Tòa án không giải quyết.

2. Về án phí: Anh Nguyễn Minh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí anh Nguyễn Minh T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0010229 ngày 11-5-2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ