- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2023/DS-ST Ngày 23 tháng 6 năm 2022 V/v “Tranh chấp hợp vay tài sản” |
NNHHÂÂNN DDAANNHH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Việt Cường
- Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Lý
Bà Võ Thị Bời
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân – Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Phan Ngọc Chiêu Quyên – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 156/2023/TLST-DS ngày 25/04/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2023/QĐXX-DS ngày 31/05/2023, Thông báo về việc thay đổi ngày xét xử số 298/TB-TA ngày 09/06/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị P
Địa chỉ: 114 hẻm L, phường Bến Thành, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.
Ủy quyền cho ông Vũ Đức H, trú tại: 458 Đường Đ, Phường 11, Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền lập ngày 28 tháng 01 năm 2022 tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Lê Nghĩa, trú tại: 519 Lê Hồng Phong, Phường 2, Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh). Có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thiên T (Tên tiếng Việt theo Giấy khai sinh), sinh ngày 03 tháng 10 năm 1969. Quốc tịch: USA. Tên Pass port: Nguyen Thien Troy. Số Pass port: 561661396 Cấp ngày: 07/03/2017 tại USA.
Địa chỉ đăng ký tạm trú: 15 Ngô L, phường Phương S, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Có mặt tại phiên tòa.
NHẬN THẤY:
* Theo đơn khởi kiện ngày 06/04/2023 và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Vũ Đức H trình bày: Vào tháng 4 năm 2020, bà Trần Thị P có cho ông Nguyễn Thiên T vay số tiền 2.000.000.000 đồng, để ông T xoay sở khó khăn trong việc làm ăn. Tuy nhiên, sau khi mượn tiền ông T không trả cho bà P một phần tiền nào. Đến ngày 27/11/2021, ông Nguyễn Thiên T viết Giấy xác nhận nợ, mượn của bà Trần Thị P 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng). Tính đến ngày 15/06/2023, ông T đã trả được số tiền là: 180.000.000 đồng (Một trăm tám mươi triệu đồng), còn nợ lại 1.820.000.000 đồng (Một tỷ tám trăm hai mươi triệu đồng). Nay, bà P đã già yếu cần tiền chữa bệnh nên yêu cầu ông T phải trả cho bà P số tiền 1.820.000.000 đồng thành một lần, không yêu cầu khoản tiền lãi phát sinh của số tiền nợ.
* Theo đơn trình bày ngày 18/05/2023 và tại phiên tòa, ông Nguyễn Thiên T trình bày: Ba ông là Nguyễn Văn Trí đã sống chung với bà Trần Thị P như vợ chồng từ năm 1982 đến năm 2016 không có hôn thú, bà P và ông T công nhận tình mẹ con và thương yêu nhau.
Đến năm 2016 ông Trí mất do bị bệnh. Sau đó đến giữa năm 2020, bà P có đưa cho ông T số tiền 2.000.000.000 đồng. Đến ngày 27/11/2021, ông T viết Giấy xác nhận nợ, mượn của bà Trần Thị P số tiền 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng). Tính đến ngày 15/06/2023, ông T đã trả được số tiền là: 180.000.000 đồng, còn nợ lại 1.820.000.000 đồng. Nay, ông đồng ý trả số tiền này cho bà P nhưng xin trả dần mỗi tháng 10.000.000 đồng từ nay cho đến tháng 12 năm 2023, từ tháng 01 năm 2024 trở đi trả mỗi tháng 20.000.000 đồng cho đến khi trả hết số tiền nợ.
* Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Buộc ông Nguyễn Thiên T phải thực hiện nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị P số tiền là: 1.820.000.000 đồng (Một tỷ tám trăm hai mươi triệu đồng).
- Án phí: Ông T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ và lời trình bày của các đương sự đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về phần thủ tục: Căn cứ vào biên bản lấy lời khai ngày 24/05/2023 của bị đơn là ông Nguyễn Thiên T (Tên tiếng Việt theo Giấy khai sinh), sinh ngày 03 tháng 10 năm 1969. Quốc tịch: USA. Tên Pass port: Nguyen Thien Troy. Số Pass port: 561661396 Cấp ngày: 07/03/2017 tại USA. Địa chỉ đăng ký tạm trú: 15 Ngô Sỹ Liên, phường Phương Sài, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, đang sống và làm việc tại Việt Nam nên Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết tại Tòa án nhân dân thành phố Nha trang, tỉnh Khánh Hòa theo quy định tại Điều 26, Điều 27, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Ba ông Nguyễn Thiên T là ông Nguyễn Văn K có chung sống với bà Trần Thị P như vợ chồng từ năm 1982 đến năm 2016 không có hôn thú, bà P và ông T công nhận tình mẹ con và thương yêu nhau. Đến năm 2016 ông K mất do bị bệnh, sau đó đến giữa năm 2020, ông T có nhận của bà P số tiền 2.000.000.000 đồng. Đến ngày 27/11/2021, ông T viết Giấy xác nhận nợ, mượn của bà Trần Thị P 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng). Tính đến ngày 15/06/2023, ông T đã trả được số tiền là: 180.000.000 đồng, còn nợ lại 1.820.000.000 đồng là hợp pháp phù hợp với các Điều 463, 464, 465, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Giấy xác nhận nợ ngày 27/11/2021 của ông Nguyễn Thiên T, xác nhận mượn của bà Trần Thị P số tiền 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng), trong đó có ghi: “Ông có mượn của bà Trần Thị P số tiền 2.000.000.000 đồng, từ tháng 1 năm 2022, mỗi tháng trả từ 30.000.000 đồng đến 45.000.000 đồng vào tài khoản của bà P cho đến khi hết số tiền đã nợ”.
Trong quá trình thực hiện nghĩa vụ trả nợ, ông T chỉ trả thực tế vào tháng 12 năm 2021 là 10.000.000 đồng, từ ngày 15/02/2022 đến ngày 15/06/2023, ông T đã trả được số tiền là: 170.000.000 đồng, tổng cộng là 180.000.000 đồng, bình quân mỗi tháng trả được khoảng 10.000.000 đồng thì không đúng với nghĩa vụ trả nợ mỗi tháng trả từ 30.000.000 đồng đến 45.000.000 đồng vào tài khoản của bà P cho đến khi hết số tiền đã nợ. Tuy nhiên phương thức trả nợ của ông T chưa được sự đồng ý của bà P. Mặt khác, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ chứng minh về tình trạng sức khỏe của bà P hiện nay có bệnh của người cao tuổi nên bà P yêu cầu ông T phải trả cho bà P số tiền 1.820.000.000 đồng (Một tỷ tám trăm hai mươi triệu đồng) thành một lần để chữa bệnh là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trong quá trình hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn không yêu cầu bị đơn trả khoản tiền lãi phát sinh của số tiền nợ nên Tòa không xem xét.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Ông Nguyễn Thiên T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm của số tiền 1.820.000.000 đồng là: 36.000.000 đồng + (1.020.000.000 đồng x 3%) = 66.600.000 đồng.
Bà Trần Thị P được mễn nộp tiền tạm ứng án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 26, Điều 27, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào các Điều 463, 464, 465, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc ông Nguyễn Thiên T phải thực hiện nghĩa vụ trả cho Trần Thị P số tiền là: 1.820.000.000 đồng (Một tỷ tám trăm hai mươi triệu đồng).
2. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:
Kể từ khi bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm thi hành án. Lãi suất được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của luật thi hành án dân sự.
3. Án phí: Ông Nguyễn Thiên T phải nộp 66.600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày, các đương sự được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm kể từ ngày tuyên án để yêu cầu tòa án cấp trên xét xử P thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND Tp. Nha Trang; - THADS Tp. Nha Trang; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hồ Việt Cường |