vanban.org

Bản án 45/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng A đối với bị đơn bà Phan Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lý Văn V về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Buộc bà Phan Thị H và ông Lý Văn V cùng liên đới thanh toán nợ cho Ngân hàng A, tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 02/6/2023) bao gồm các khoản sau: Nợ gốc 500.000.000 đồng; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "NĐ ARIBANK; BĐ Phan Thị H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng A đối với bị đơn bà Phan Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lý Văn V về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ VNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2023/DS-ST
Ngày: 02-6-2023
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Chiêu Hùng.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Triệu Khánh Long

Bà Nguyễn Huỳnh Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn H Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vnh Châu, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệp - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 262/2022/TLST-DS ngày 23 tháng 12 năm 2022, về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2023/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự;

- Nguyên đơn: Ngân hàng A. Địa chỉ:, phường C, quận Đ, Thành phố Hà Nội;

Đại diện theo ủy quyền: Bà Huỳnh Ngọc T - Phó Giám đốc Ngân hàng A - Chi nhánh thị xã VC; địa chỉ: khóm A, Phường B, thị xã Vc, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

- Bị đơn: Bà Phan Thị H, sinh năm 1964. Địa chỉ: Ấp T, xã H, thị xã VC. (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lý Văn V, sinh năm 1963; (vắng mặt)

2. Bà Lý Ngọc M, sinh năm 1985; (vắng mặt)

3. Ông Lý Văn Đ1, sinh năm 1987; (vắng mặt)

4. Ông Lý Văn Đ, sinh năm 1993; (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Số 82, ấp Ngã Tư, xã Vnh Hiệp, thị xã Vnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 31 tháng 10 năm 2022 (BL01-02) của nguyên đơn Ngân hàng A cũng như trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Huỳnh Ngọc T là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 14/12/2021, Ngân hàng A- Chi nhánh thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng (Agribank

- Chi nhánh thị xã VC) với bà Phan Thị H đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-202100949. Theo Hợp đồng, Agribank - Chi nhánh thị xã Vnh Châu cho bà H vay số tiền 500.000.000 đồng; Mục đích vay: Nuôi tôm; lãi suất 9%/năm; thanh toán trả lãi 08 tháng/lần, trả nợ gốc 01 lần khi đến hạn; thời hạn vay là 08 tháng.

Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay bà Phan Thị H và ông Lý Văn V đã ký kết với Agribank - Chi nhánh VC Hợp đồng thế chấp tài sản số 7606LCP201401038/HĐTC ngày 19/03/2014 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 01/HĐTC được ký kết ngày 08/01/2019, thế chấp tài sản như sau:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 259841, có diện tích 6.552m2, thửa số 337; tờ bản đồ số 09, đất tọa lạc tại ấp Ngã Tư, xã Vnh Hiệp, thị xã Vnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, do UBND huyện VC (Nay là UBND thị xã VC) cấp cho ông Lý Văn V và bà Phan Thị H ngày 25/01/2006.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 723583, có diện tích 16.942m2, thửa số 276, 277, 278; cùng tờ bản đồ số 09, đất tọa lạc tại ấp T, xã H, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng, do UBND huyện VC (Nay là UBND thị xã VC) cấp cho hộ ông Lý Văn V ngày 23/10/1996.

Tính đến hết ngày 02/6/2023, tổng nợ của bà Phan Thị H tạm tính (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) tại Agribank - Chi nhánh thị xã Vnh Châu là 584.082.193 đồng, trong đó: Nợ gốc 500.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn 66.082.192 đồng; Nợ lãi quá hạn: 18.000.001 đồng.

Nay tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Phan Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lý Văn V cùng liên đới thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng A tạm tính đến ngày 02/6/2023 là 584.082.193 đồng, trong đó: Nợ gốc 500.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn 66.082.192 đồng; Nợ lãi quá hạn: 18.000.001 đồng và phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-202100949 ngày 14/12/2021, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử ngày 03/6/2023 cho đến ngày thực tế bà Phan Thị H và ông Lý Văn V trả hết nợ gốc cho Ngân hàng A.

Trường hợp bà H, ông V không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng A thông qua Ngân hàng A - Chi nhánh thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của bà Phan Thị H và ông Lý Văn V theo các Hợp đồng thế chấp tài sản số 7606LCP201401038/HĐTC ngày 19/03/2014 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 01/HĐTC được ký kết ngày 08/01/2019 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Lời trình bày của bị đơn bà Phan Thị H tại phiên tòa: Bà H thừa nhận có vay tiền của Ngân hàng và chưa có thanh toán nợ cho Ngân hàng là đúng như Ngân hàng đã khởi kiện, tuy nhiên do bà H đang gặp khó khăn về kinh tế nên mới chưa thanh toán nợ cho Ngân hàng được, nên yêu cầu Ngân hàng tạo điều kiện để bà H nuôi tôm khi thu hoạch tôm sẽ thanh toán nợ cho Ngân hàng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lý Văn V, bà Lý Ngọc M, ông Lý Văn Đ1, ông Lý Văn Đ đều vắng mặt tại tất cả các buổi giải quyết của Tòa án nên không có ý kiến trình bày.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết và Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, sau đó đã thông báo cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết kết quả phiên họp. Đồng thời, Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vnh Châu phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng pháp luật, tuy nhiên sự chấp hành của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa đúng pháp luật, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hội đồng xét xử đã xác định đúng quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lý Văn V cùng liên đới thanh toán số tiền còn nợ cho nguyên đơn với số tiền 584.082.193 đồng, trong đó: Nợ gốc 500.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn 66.082.192 đồng; Nợ lãi quá hạn: 18.000.001 đồng và phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-202100949 ngày 14/12/2021, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử ngày 03/6/2023 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Trường hợp bà H và ông V không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản đã ký để thu hồi nợ. Quyết định nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng và án phí sơ thẩm đối với đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập xét xử đến lần thứ hai cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lý Văn V, bà Lý Ngọc M, ông Lý Văn Đ1, ông Lý Văn Đ nhưng các đương sự vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Lý Văn V, bà Lý Ngọc M, ông Lý Văn Đ1, ông Lý Văn Đ theo quy định pháp luật.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hội đồng xét xử nhận thấy, Ngân hàng A có ký Hợp đồng tín dụng 7606-LAV-202100949 ngày 14/12/2021 với bên vay bà Phan Thị H, mục đích vay để nuôi tôm. Trong quá trình thực hiện hợp đồng bà H trả nợ không đúng kỳ hạn như thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng đã ký nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà H có nghĩa vụ thực hiện trả tiền vốn vay và tiền lãi còn nợ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa nguyên đơn, Ngân hàng A với bị đơn Phan Thị H là tranh chấp về Hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự và bị đơn có địa chỉ cư trú ở ấp Ngã Tư, xã Vnh Hiệp, thị xã Vnh Châu, tỉnh Sóc Trăng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Vnh Châu thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng A về việc yêu cầu bị đơn trả tiền vay còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 02/6/2023). Tổng cộng là 584.082.193 đồng, trong đó: Nợ gốc 500.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn 66.082.192 đồng; Nợ lãi quá hạn: 18.000.001 đồng.

Xét Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-202100949 ngày 14/12/2021 Hội đồng xét xử thấy: Theo Hợp đồng tín dụng đã ký ngày 14/12/2021 và giấy nhận nợ đề ngày 14/12/2021 bà H nhận tiền vay của Ngân hàng là 500.000.000 đồng, thời hạn vay là 08 tháng, thỏa thuận lãi suất vay trong hạn 9%/năm và lãi suất quá hạn là 150%/năm lãi suất cho vay trong hạn. Ngân hàng nhiều lần đôn đốc bà H thực hiện trả nợ gốc và lãi, nhưng bà H vẫn không thực hiện nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận và khoản nợ vay này đã chuyển sang nợ quá hạn. Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các đương sự, các đương sự thừa nhận không ai phản đối tình tiết đã giao kết Hợp đồng, cũng không có ý kiến về việc bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép nên Hợp đồng đã ký là hoàn toàn tự nguyện; mục đích sử dụng tiền vay để nuôi tôm là không trái đạo đức xã hội, phù hợp quy định tại khoản 16 Điều 4 của Luật Các tổ chức tín dụng; Hợp đồng còn có chứa đựng đầy đủ các điều kiện cơ bản về số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, phương thức trả nợ, phương thức tính lãi, biện pháp bảo đảm tiền vay cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên phù hợp với quy định tại Điều 117 của Bộ luật dân sự. Mặc dù ông V không có ký vào Hợp đồng tín dụng, chỉ có ký vào hợp đồng thế chấp và có văn bản đồng ý ủy quyền cho bà H vay tiền, mục đích vay tiền Ngân hàng về để nuôi tôm kiếm lời nhằm để sinh hoạt chung trong gia đình. Nên căn cứ theo khoản 2 Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Phan Thị H và ông Lý Văn V cùng liên đới thanh toán số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử (02/6/2023) là 584.082.193 đồng, trong đó: Nợ gốc 500.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn 66.082.192 đồng; Nợ lãi quá hạn: 18.000.001 đồng và các nghĩa vụ tương ứng khác là có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với nợ lãi: Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-202100949 ngày 14/12/2021 có lãi suất thỏa thuận 9%/năm đây là lãi suất do các bên thỏa thuận và không vi phạm các quy định của pháp luật về lãi suất. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà H vi phạm nghĩa vụ trả lãi và bị Ngân hàng xác định là vi phạm hợp đồng. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà H phải trả nợ lãi trên dư nợ gốc là có căn cứ chấp nhận.

Xét Hợp đồng thế chấp tài số 7606LCP201401038/HĐTC ngày 19/03/2014 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 01/HĐTC được ký kết ngày 08/01/2019 Hội đồng xét xử thấy: Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ bà H và ông V đã dùng tài sản là quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H723583 diện tích 16942m2 thuộc thửa đất số 276, 277, 278 cùng tờ bản đồ số 09; đất tọa lạc tại ấp T, xã H, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng cấp cho hộ ông Lý Văn V đứng tên và quyền sử dụng đất số AD259841 diện tích 6552 m2 thuộc thửa đất số 337, tờ bản đồ số 09 đất tọa lạc tại ấp T, xã H, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng để thế chấp cho Ngân hàng. Các bên tham gia có đủ điều kiện về chủ thể, hoàn toàn tự nguyện, mục đích không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức, xã hội và có đăng ký giao dịch bảo đảm. Do đó, Hợp đồng thế chấp tài sản và phụ lục Hợp đồng thế chấp có hiệu lực buộc các bên phải thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo Hợp đồng. Nếu bà H và ông V không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là đúng theo quy định tại Điều 4 của Hợp đồng thế chấp tài sản số 7606LCP201401038/HĐTC ngày 19/03/2014 và Phụ lục Hợp đồng thế chấp số 01/HĐTC được ký kết ngày 08/01/2019 mà các bên đã ký kết.

Căn cứ vào biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 17/02/2023 (BL38-42) quyền sử dụng đất được các đương sự thế chấp cho Ngân hàng, có đặc điểm sau:

- Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận số H723583 diện tích 16942m2 thuộc thửa đất số 276, 277, 278 cùng tờ bản đồ số 09; đất tọa lạc tại ấp T, xã H, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng do hộ ông Lý Văn V đứng tên.

+ Thửa đất 276, tờ bản đồ số 09 thế chấp cho Ngân hàng có tồn tại 01 căn nhà có chiều ngang 12,2m, chiều dài 22,9m được xây dựng vào năm 1993. Kết cấu: Nhà cột bê tông cốt thép, tường xây gạch 10, mái lợp tol kẽm sống vuông, trần thạch cao, nền lót gạch Ceramic, khung cửa nhôm có kiếng + cửa sắt kéo. Cây trồng trên đất gồm có: 07 cây dừa loại A; 01 cây dừa loại B; 01 cây nhãn loại A; 01 cây nhãn loại B; 01 cây ổi loại A; 01 cây ổi loại C; 01 cây mít loại A; 03 cây bưởi loại B; 01 cây loại C; 01 cây lê ki ma loại A; 01 cây vú sữa loại A; 02 cây vú sữa loại B; 08 bụi thanh long; 01 cây lá cách loại B; 05 bụi chuối loại A; 01 cây đu đủ loại A; 01 cây đu đủ loại C.

+ Thửa đất 277, tờ bản đồ số 09 thế chấp cho Ngân hàng là đất ao nuôi tôm không có tài sản trên đất.

+ Thửa đất 278, tờ bản đồ 09 thế chấp cho Ngân hàng có tồn tại 01 căn chồi giữ tôm ngang 4,5m, dài 5,5m. Kết cấu cột đúc, mái lợp tol xi măng, vách lá, nền đất. Ngoài ra không có tài sản gì khác.

- Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận số AD259841 diện tích 6552m2 thuộc thửa đất số 337 tờ bản đồ số 09; đất tọa lạc tại ấp T, xã Vc, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng do ông Lý Văn V và bà Phan Thị H đứng tên.

+ Thửa đất 337 tờ bản đồ số 09 thế chấp cho Ngân hàng là đất ao nuôi tôm không có tài sản trên đất.

Đối với bị đơn yêu cầu Ngân hàng tạo điều kiện để nuôi tôm khi nào thu hoạch tôm sẽ thanh toán nợ cho Ngân hàng nhưng không được người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đồng ý vấn đề này sẽ được xem xét trong giai đoạn thi hành án.

Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được biết về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, nhưng các đương sự không có ý kiến và không ai có yêu cầu độc lập nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vnh Châu là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử (ngày 03/6/2023) bị đơn bà Phan Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lý Văn V còn phải tiếp tục liên đới chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-202100949 ngày 14/12/2021 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.

Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) bà Phan Thị H và ông Lý Văn V phải cùng liên đới chịu. Do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam đã tạm ứng trước nên bà H và ông V có nghĩa vụ liên đới thanh toán lại số tiền nêu trên cho Ngân hàng.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông V có nghĩa vụ liên đới chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Do ông V là người cao tuổi và có đơn miễn nộp tiền án phía nên ông V được miễn án phí phần của ông V theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Điều 325; Điều 463; Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ khoản 2 Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ vào Điều 7; khoản 2 Điều 8; Điều 10; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng A đối với bị đơn bà Phan Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lý Văn V về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Buộc bà Phan Thị H và ông Lý Văn V cùng liên đới thanh toán nợ cho Ngân hàng A, tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 02/6/2023) bao gồm các khoản sau:

- Nợ gốc 500.000.000 đồng;

- Nợ lãi trong hạn: 66.082.192 đồng

- Nợ lãi quá hạn 18.000.001 đồng.

Tổng cộng 584.082.193 đồng (năm trăm tám mươi bốn triệu không trăm tám mươi hai nghìn một trăm chín mươi ba đồng).

2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử (ngày 03/6/2023) bà Phan Thị H và ông Lý Văn V còn phải liên đới tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-202100949 ngày 14/12/2021 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.

3. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, Ngân hàng A có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Phan Thị H và ông Lý Văn V không thanh toán số tiền nêu trên thì Ngân hàng A có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự thị xã Vnh Châu phát mãi tài sản thế chấp, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 7606LCP201401038/HĐTC ngày 19/03/2014 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 01/HĐTC được ký kết ngày 08/01/2019 đã ký để Ngân hàng thu hồi nợ.

4. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) bà Phan Thị H và ông Lý Văn V phải cùng liên đới chịu. Ngân hàng A đã tạm ứng trước nên bà H và ông V có nghĩa vụ liên đới thanh toán số tiền nêu trên lại cho Ngân hàng.

5. Về án phí sơ thẩm:

- Bà Phan Thị H và ông Lý Văn V cùng liên đới chịu 27.363.288 đồng (hai mươi bảy triệu ba trăm sáu mươi ba nghìn hai trăm tám mươi tám đồng). Do ông V là người cao tuổi và có đơn xin miễn tiền án phí nên ông V được miễn nộp 13.681.644 đồng (mười ba triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn sáu trăm bốn mươi bốn đồng). Bà H phải chịu 13.681.644 đồng (mười ba triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn sáu trăm bốn mươi bốn đồng).

- Ngân hàng A không phải chịu án phí sơ thẩm, Ngân hàng được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 12.890.137 đồng (mười hai triệu tám trăm chín mươi nghìn một trăm ba mươi bảy đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006048 ngày 22/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ