- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng T - Châu Tấn P"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với ông Châu Tấn P.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2023/DS - ST Ngày: 17-7-2023 V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hà
2. Ông Nguyễn Văn Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hoàn – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đất Đỏ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tùng Lâm - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 30/2023/TLST-DS ngày 06/3/2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2023/QĐXXST-DS ngày 12/6/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2023/QĐST-DS ngày 30/6/2023; giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng T. Địa chỉ: Số 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Hoàng Trung H – Phó Giám đốc kiêm trưởng phòng giao dịch Ngân hàng T – Chi nhánh Bà Rịa – Vũng Tàu – Phòng Giao dịch Rạch Dừa (Theo quyết định ủy quyền số 3272/2022/QĐ-PL ngày 26/12/2022).
Ông Vũ Hoàng Trung H ủy quyền lại cho bà Lê Thị Phương T – Chuyên viên ngân hàng (Theo giấy ủy quyền số 67/2023/GUQ-PGD Rạch Dừa ngày 17/7/2023) (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Châu Tấn P, sinh năm 1988. Địa chỉ: Tổ 4, ấp A, xã Lộc An, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28/02/2023, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên toà, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Lê Thị Phương T trình bày:
Ngày 17/07/2018, Ngân hàng T (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) có ký với ông Châu Tấn P giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng 150TTD/2018, số thẻ 356481-5262, số tài khoản thẻ 3099297644, hạn mức tín dụng là 30,000,000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2.6%/ tháng (lãi suất trong hạn). Mục đích sử dụng thẻ tín dụng là vay tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông P đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 31.459.212 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, ông P đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông P vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông P vi phạm hợp đồng, 103 ngày không thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Tạm tính đến ngày 17/7/2023 ông P nợ ngân hàng như sau: Nợ gốc là 31.459.212 đồng. Lãi quá hạn là 12.340.706 đồng. Tổng cộng số tiền là 43.799.918đ (Bốn mươi ba triệu bảy trăm chín mươi chín nghìn chín trăm mười tám đồng).
Nay Ngân hàng yêu cầu ông P phải trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền này và tiền lãi phát sinh theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng 150TTD/2018 từ ngày 18/7/2023 đến khi ông Châu Tấn P hoàn tất nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
Ngân hàng chỉ cho ông P vay số tiền trên nên chỉ yêu cầu ông P có trách nhiệm thanh toán khoản nợ trên cho Ngân hàng ngoài ra không yêu cầu ai khác phải có trách nhiệm thanh toán.
Bị đơn ông Châu Tấn P đã được Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt thông báo thụ lý; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập tham gia phiên tòa; quyết định hoãn phiên tòa... theo đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự nhưng ông Hải không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến, yêu cầu của mình và không có mặt theo thông báo, quyết định của Tòa án.
Tại phiên Tòa:
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả cho Ngân hàng 17/7/2023 ông P nợ ngân hàng: nợ gốc 31.459.212 đồng. Lãi quá hạn là 12.340.706 đồng. Tổng cộng số tiền là 43.799.918đ (Bốn mươi ba triệu bảy trăm chín mươi chín nghìn chín trăm mười tám đồng) và tiền lãi phát sinh theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng 150TTD/2018 đến khi ông Châu Tấn P hoàn tất nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
- Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ: Quá trình tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi khai mạc phiên tòa, Thẩm phán đã tiến hành đúng các quy định về thủ tục tố tụng được quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định tại chương XIV Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng: đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt; căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị vẫn tiến hành xét xử vụ án theo luật định.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí: Đề nghị bị đơn chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng T khởi kiện ông Châu Tấn P về hợp đồng tín dụng được ký kết giữa các bên, nên Tòa án xác định đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu được quy định tại khoản 3 điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Châu Tấn P đăng ký hộ khẩu thường trú tại Tổ 4, ấp A, xã Lộc An, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Quá trình giải quyết, Toà án đã tiến hành niêm yết, tống đạt hợp lệ nhưng ông P vẫn không đến. Theo điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án quy định: “Trường hợp người bị kiện thay đổi nơi cư trú được ghi trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú mới thì được xem là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung”. Vì vậy, đối với trường hợp này, được xem như ông P cố tình giấu địa chỉ và nơi cư trú cuối cùng được xác định tại Tổ 4, ấp A, xã Lộc An, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Ông Châu Tấn P đã được Tòa án niêm yết hợp lệ các quyết định tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt nên căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành phiên tòa theo quy định của pháp luật.
Về nội dung:
Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng:
Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng 150TTD/2018 giữa Ngân hàng T và ông Châu Tấn P thể hiện ông P đã mở thẻ tín dụng với hạn mức tín dụng là 30.000.000 đồng, sau khi được cấp thẻ tín dụng ông P đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 31.459.212 đồng. Mục đích vay tiêu dùng cá nhân, hình thức mở thẻ tín dụng không có tài sản đảm bảo. Lãi suất là 2.6%/tháng (lãi suất trong hạn). Qua đó, hợp đồng đã thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận giữa hai bên.
Ngân hàng đã giao thẻ tín dụng số thẻ 356481-5262, số tài khoản thẻ 3099297644 cho ông P. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông P đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận vì vậy Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông P trả tổng cộng số nợ gốc, lãi tạm tính đến ngày 17/7/2023 là 43.799.918đ (Bốn mươi ba triệu bảy trăm chín mươi chín nghìn chín trăm mười tám đồng). (Trong đó tiền nợ gốc: 31.459.212 đồng, lãi quá hạn: 12.340.706 đồng) là có căn cứ nên chấp nhận.
Về yêu cầu trả lãi phát sinh: Xét tại Điều 23.2 và điểm b điều 24.4 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng T (có hiệu lực từ 22/4/2021), các bên có thỏa thuận về lãi suất “Sacombank có quyền sửa đổi mức lãi suất trong từng thời kỳ theo quyết định của mình mà không cần thông báo trước cho chủ thẻ”, “…áp dụng lãi suất quá hạn đối với toàn bộ dư nợ theo quy định của Sacombank”; do đó cần áp dụng án lệ số 08/2016/AL buộc ông P tiếp tục trả lãi như sau: kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông P còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng và mức lãi cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về án phí, lệ phí Tòa án: toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 điều 35; khoản 1 điều 39, điều 227, điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với ông Châu Tấn P.
1. Buộc ông Châu Tấn P có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng T tổng số tiền tính đến ngày 17/7/2023 là 43.799.918đ (Bốn mươi ba triệu bảy trăm chín mươi chín nghìn chín trăm mười tám đồng). (Trong đó tiền nợ gốc: 31.459.212 đồng, lãi quá hạn: 12.340.706 đồng).
“Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.”
2. Về án phí: Ông Châu Tấn P phải nộp 2.190.000đ (Hai triệu một trăm chín mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng T số tiền 896.000đ (Tám trăm chín mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0010160 ngày 24/02/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử theo thủ tục P thẩm. Đối với người vắng mặt thì thời hạn này tính từ ngày nhận bản sao bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết
| Nơi nhận: -Các đương sự; -TAND tỉnh BR-VT; -VKSND huyện Đất Đỏ; -Chi cục THADS huyện Đất Đỏ; -Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Trần Thị Mỹ Dung |