- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Xuân Tr - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TX. PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU ———————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2022/HSST Ngày 09-03-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thanh Hảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Việt Tr
Ông Nguyễn Thế Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân – Thư ký của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuý - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 03 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 179/2021/HSST ngày 18 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2022, đối với bị cáo:
Lê Xuân Tr (tên gọi khác: TT), sinh ngày 11-11-2000 tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Khu phố X, phường Y, thị xã Z, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Nghề nghiệp: không ; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Ngọc S và bà Đỗ Thị Thuý D; Tiền sự - Tiền án: không; bị bắt ngày 03 tháng 8 năm 2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ( bị cáo có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Ngọc S( có mặt) , sinh năm 1972 và bà Đỗ Thị Thuý D ( có mặt) , sinh năm 1976 – Cùng địa chỉ: Khu phố X, phường Y, thị xã Zỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Người làm chứng:
- Nguyễn Danh T, sinh năm 2001 - Địa chỉ: Số 60 NLB, khu phố Q, phường Y, thị xã Z, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu ( vắng mặt).
- Lê Chi L sinh năm 1986 – Địa chỉ: Tổ 3, khu phố Q, phường Y, thị xã Z, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ( vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 03-08-2021, Lê Xuân Tr điều khiển xe mô tô biển số 55P3-7519 đến khu vực phường Mỹ Xuân, thị xã Phú Mỹ mua 01 gói ma tuý ( hàng đá) của một người phụ nữ (không xác định được nhân thân) với giá 200.000 đ. Tr cất giấu gói ma tuý vào hộc để đồ phía trước bên trái xe mô tô rồi về nhà.
Khoảng 10 giờ ngày 03-08-2021, Nguyễn Danh T gọi điện thoại cho Lê Xuân Tr nhờ đến phòng trọ chở T về nhà T để ăn cơm. Khi Tr điều khiển xe mô tô biển số 55P3-7519 chở T về nhà, đến đoạn đường Phan Bội Châu, khu phố Tân Phú, thị xã Phú Mỹ, cả hai bị lực lượng bảo vệ dân phố phường Phú Mỹ yêu cầu dừng xe, kiểm tra và phát hiện có một gói tinh thể màu trắng được cất giấu trên xe của Tr. Lực lượng bảo vệ dân phố báo cáo Công an thị xã Phú Mỹ đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Thu giữ của Tr: 01 gói nylon hàn kín, bên trong chứa chất kết tinh không màu trong suốt; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A20S màu xanh và 01 xe mô tô biển số 55P3-7519.
Bản kết luận giám định số 410/KLGĐ-PC09-MT ngày 13-08-2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu kết luận: Mẫu chất kết tinh không màu - trong suốt chứa trong 01 gói nylon hàn kín, niêm phong trong phong bì màu vàng gửi đến giám định có khối lượng 0,2414 gam, là chất ma túy loại Methamphetamie.
Đối tượng người phụ nữ liên quan đến hành vi phạm tội của Lê Xuân Tr do chưa xác định được nhân thân, nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau theo quy định pháp luật.
Nguyễn Danh T không liên quan đến hành vi phạm tội của Lê Xuân Tr, nên Cơ quan điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự.
Bản cáo trạng số 201/CT-VKS ngày 15-11-2021, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ đã truy tố Lê Xuân Tr về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy ”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù giam; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh; bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần mức án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra thị xã Phú Mỹ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa bị cáo xác định đã sử dụng ma tuý từ năm 2018 đến ngày bị bắt quả tang khi đang tàng trữ một gói ma túy tổng hợp có khối lượng 0,2414 gam, là chất ma túy loại Methamphetamie. Gói ma túy này bị cáo mua của một người phụ nữ vào khoảng 09 giờ ngày 03-08-2021 tại khu vực phường Mỹ Xuân, thị xã Phú Mỹ với giá 200.000 đồng, mục đích để sử dụng.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được các cơ quan T hành tố tụng thu thập trong hồ sơ vụ án và thẩm tra lại tại phiên tòa. Hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác; ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo đã sử dụng ma tuý trong thời gian dài, vì vậy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm theo quy định pháp luật, nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
. Về xử lý vật chứng:
- 01 gói ma túy niêm phong số 410 ngày 13-08-2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là chất nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy;
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung A20S màu xanh (máy đã cũ, không hoạt động) là tài sản hợp pháp của bà Đỗ Thị Thuý D ( mẹ bị cáo), bị cáo không sử dụng điện thoại này để liên lạc mua ma tuý, nên trả lại điện thoại này cho bà D.
- 01 xe mô tô hiệu Yamaha màu đen đỏ, biển số 55P3-7519 ( xe đã cũ, không còn hoạt động) là tài sản thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Lê Ngọc S ( cha bị cáo). Ông S không biết bị cáo mượn xe sử dụng làm phương tiện tội phạm, nên trả lại chiếc xe trên cho ông Lê Ngọc S.
. Về án phí : Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân Tr phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý ”.
2. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt Lê Xuân Tr 02 ( hai ) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 03 tháng 08 năm 2021.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Tịch thu tiêu hủy 01 gói ma túy niêm phong số 410 ngày 13-08-2021;
- Trả lại bà Đỗ Thị Thuý D 01 điện thoại di động hiệu Samsung A20S màu xanh (máy đã cũ, không còn hoạt động).
- Trả lại ông Lê Ngọc S 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Nouvo màu đen đỏ, biển số 55P3-7519 ( xe đã cũ, không còn hoạt động).
Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 21/BB-CCTHADS ngày 16-11-2021.
4. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng ( hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Tr hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ( PV06); - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND thị xã Phú Mỹ; - Công an thị xã Phú Mỹ; - Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ; - Nhà tạm giữ Công an thị xã Phú Mỹ; - Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo cư trú; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Thanh Hảo |