vanban.org

Bản án 45/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 01/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hà Nhân Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo: Xử phạt bị cáo Hà Nhân Th 14 (Mười bốn) tháng tù.Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13/4/2022 đến ngày 19/4/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Nhân Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hà Nhân Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2022/HSST
Ngày 01/7/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH BẮC KẠN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Thu.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nông Hữu Thái;

2. Ông Đỗ Trung Xuân.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Lộc – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Chung – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Ủy ban nhân dân phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, Tòa án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2022/TLST - HS ngày 17/6/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2022/QĐXXST-HS ngày 20/6/2022 đối với bị cáo:

Hà Nhân Th; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 13/01/1982 tại Bắc Kạn; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ B, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hà Nhân Kh và bà Cao Thị Th; vợ là Hoàng Thị Qu; con: có 2 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 13/4/2022 đến ngày 19/4/2022, sau đó được tại ngoại cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hoàng Thị Qu; sinh năm 1987; trú tại: Tổ B, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.

Có mặt.

NỘI DUNG VỤ Á N:

Theo các tài liê ̣u có trong hồ sơ vu ̣ án và diễn biến tại phiên tòa, nô ̣i dung vu ̣ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 45 phút ngày 13 tháng 4 năm 2022, tại khu vực tổ 9A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố B, tỉnh Bắc Kạn bắt quả tang Hà Nhân Th, sinh năm 1982, trú tại tổ B, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tang vật là 01 (một) ống nhựa màu trắng bịt kín hai đầu, bên trong có chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy) tại lòng bàn tay trái của Hà Nhân Th. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong ống nhựa màu trắng nêu trên trong phong bì ký hiệu T1. Ngoài ra, Tổ công tác còn tạm giữ của Hà Nhân Th 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redme vỏ màu xanh đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu xanh đen, biển kiểm soát 97B2 – 006.91 đã qua sử dụng, kèm theo 01 (một) chìa khóa xe.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã tiến hành khám xét khẩn cấp đối với Hà Nhân Th tại tổ B, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Qua khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.

Tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng niêm phong trong phong bì ký hiệu T1 xác định được tổng khối lượng là 0,16g (không phẩy một sáu gam). Sau khi cân xác định khối lượng, toàn bộ số chất bột màu trắng nêu trên được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1 gửi trưng cầu giám định chất ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 33 ngày 19 tháng 4 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,16g (không phẩy một sáu gam)”.

Tại Cơ quan điều tra Hà Nhân Th khai nhận: Toàn bộ số chất bột màu trắng Cơ quan điều tra thu giữ trong quá trình bắt quả tang đối với Th vào hồi 11 giờ 45 phút ngày 13 tháng 4 năm 2022, tại khu vực tổ 9A, phường Đức Xuân, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn là ma túy (loại Heroine) do Th mua với một người phụ nữ (không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) tại khu vực ngã ba thuộc tổ 15, phường Sông Cầu, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn với số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), vào khoảng 11 giờ ngày 13 tháng 4 năm 2022, với mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Cơ quan điều tra phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy nêu trên.

Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo đã khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 31/CT-VKSTPBK, ngày 16 tháng 6 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo Hà Nhân Th vÒ téi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…..

c) Heroine…, Methamphetamine…có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…..

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Hà Nhân Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hà Nhân Th từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13/4/2022 đến ngày 19/4/2022.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có công việc làm ổn định, không có tài sản riêng do vậy đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

-Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ký hiệu T70 và dòng chữ “Vụ: Hà Nhân Th (1982) tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 13/4/2022 tại tổ 9A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn”. Mặt sau phong bì có 03 (ba) chữ ký niêm phong không đọc được và 02 (hai) dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn;

+ 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ký hiệu A2 và dòng chữ “Phong bì, giấy tráng bạc, ống nhựa cũ lưu hồ sơ vụ án”. Mặt sau phong bì có 06 (sáu) chữ ký niêm phong không đọc được, 01 (một) chữ ký tên “Th” và hai dòng chữ “Đỗ Mai L” và “Hà Nhân Th”. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn;

- Tịch thu, hóa giá, nộp ngân sách nhà nước ½ giá trị của chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu xanh đen, biển kiểm soát 97B2-00691, số khung: RLHJA3927LY038287, số máy: JA39E-2040029 cùng chìa khóa xe và 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 075531 mang tên Hoàng Thị Qu, biển số đăng ký 97B2-00691 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bắc Kạn cấp ngày 02/12/2020, còn ½ giá trị của chiếc xe mô tô trả lại cho bà Hoàng Thị Qu.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Hà Nhân Th thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như trên là đúng người, đúng tội và mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, bị cáo chỉ xin HĐXX xem xét trả lại chiếc xe mô tô cho vợ của bị cáo để gia đình có phương tiện đi lại, phục vụ cuộc sống.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị Qu cũng đề nghị HĐXX xem xét trả lại chiếc xe mô tô cho bà Qu để gia đình có phương tiện đi lại, phục vụ cuộc sống.

NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒA ÁN:

Trên cơ sở nô ̣i dung vu ̣ án , căn cứ vào các tài liê ̣u có trong hồ sơ vu ̣ án đa ̃

được tranh tụng tại phiên tòa, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n định như sau:

[1] Về hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công anthành phố B, Điều tra viên , Viê ̣n kiểm sát thành phố B và Kiểm sát viên trong quá trinh

̀ điều tra, truy tố đa thự̃

c hiê ̣n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hinh sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng

̀ trong vu ̣ án không có ý kiến khiếu na ̣i về hành vi, quyết đi ̣nh của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan tiến hành tố tu ̣ng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng đa thự̃

c hiê ̣n đềuhợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Hà Nhân Th thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở xác định:

Hồi 11 giờ 45 phút ngày 13 tháng 4 năm 2022, tại khu vực tổ 9A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, Hà Nhân Th có hành vi tàng trữ trái phép 0,16g (không phẩy một sáu gam) ma túy, loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan điều tra phát hiện, bắt quả tang.

Hà Nhân Th là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật tuy nhiên do nghiện chất ma túy nên đã cố ý tàng trữ trái phép 0,16g (không phẩy một sáu gam) ma túy, loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tinh chất , mứ c đô ̣ hành vi phạm tội của bị cáo: Tội phạm mà bị cáo

́ thực hiện thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất ma tuý, là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương nên cần xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo Hà Nhân Th có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội do vậy được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo”quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo có bố đẻ là ông Hà Nhân Kh là người có công với Cách mạng, bị nhiễm chất độc hóa học, hiện đang được hưởng trợ cấp theo quy định của Nhà nước, do vậy bị cáo còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo trong một khoảng thời gian nhất định nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có công việc làm ổn định, không có tài sản riêng do vậy HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ký hiệu T70 và dòng chữ “Vụ: Hà Nhân Th (1982) tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 13/4/2022 tại tổ 9A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn”. Mặt sau phong bì có 03 (ba) chữ ký niêm phong không đọc được và 02 (hai) dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn, chứa chất thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ký hiệu A2 và dòng chữ “Phong bì, giấy tráng bạc, ống nhựa cũ lưu hồ sơ vụ án”. Mặt sau phong bì có 06 (sáu) chữ ký niêm phong không đọc được, 01 (một) chữ ký tên “Th” và hai dòng chữ “Đỗ Mai L” và “Hà Nhân Th”, là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu xanh đen, biển kiểm soát 97B2-00691, số khung: RLHJA3927LY038287, số máy: JA39E-2040029 cùng chìa khóa xe và 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 075531 mang tên Hoàng Thị Qu, biển số đăng ký 97B2-00691 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bắc Kạn cấp ngày 02/12/2020. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định chiếc xe mô tô này là tài sản chung của vợ chồng, được hình thành trong thời kỳ hôn nhân giữa Hà Nhân Th và vợ là Hoàng Thị Qu, nên cần tuyên tịch thu, hóa giá nộp ngân sách nhà nước ½ giá trị của xe mô tô, còn ½ giá trị của xe mô tô trả lại cho bà Hoàng Thị Qu là phù hợp với quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Trong vụ án này, còn có đối tượng nữ giới (không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể) theo lời khai của Hà Nhân Th là người bán trái phép chất ma túy cho Th vào ngày 13/4/2022 tại khu vực ngã ba thuộc tổ 15, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn với số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Tuy nhiên, hiện nay Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể nên không có căn cứ xử lý.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và án phí đối với bị cáo là phù hợp, có cơ sở để chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Hà Nhân Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Hà Nhân Th 14 (Mười bốn) tháng tù.Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13/4/2022 đến ngày 19/4/2022.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ký hiệu T70 và dòng chữ “Vụ: Hà Nhân Th (1982) tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 13/4/2022 tại tổ 9A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn”. Mặt sau phong bì có 03 (ba) chữ ký niêm phong không đọc được và 02 (hai) dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn;

+ 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ký hiệu A2 và dòng chữ “Phong bì, giấy tráng bạc, ống nhựa cũ lưu hồ sơ vụ án”. Mặt sau phong bì có 06 (sáu) chữ ký niêm phong không đọc được, 01 (một) chữ ký tên “Th” và hai dòng chữ “Đỗ Mai L” và “Hà Nhân Th”. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn;

- Tịch thu, hóa giá nộp ngân sách nhà nước ½ giá trị của chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu xanh đen, biển kiểm soát 97B2-00691, số khung: RLHJA3927LY038287, số máy: JA39E-2040029 cùng chìa khóa xe và 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 075531 mang tên Hoàng Thị Qu, biển số đăng ký 97B2-00691 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bắc Kạn cấp ngày 02/12/2020, còn ½ giá trị của chiếc xe mô tô trả lại cho bà Hoàng Thị Qu.

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Bị cáo Hà Nhân Th phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ