vanban.org

Bản án 45/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu Tuyên án 18/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố bị cáo: Vàng Văn Tr phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2/Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 18/04/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự Vàng Văn Trọng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo: Vàng Văn Tr phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NẬM NHÙN
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2022/HSST
Ngày 18/08/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM NHÙN, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Lý Đức Hiệp

- Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà: Lò Thị Doanh

2. Bà: Nghiêm Thị Tú Anh

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông: Đồng Văn Dũng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông: Đặng Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18/08/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2022/HSST ngày 26/07/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2022/QĐXXST-HS ngày 05/08/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vàng Văn Tr; Tên gọi khác: Không.

Sinh năm 1985 tại tỉnh Lai Châu.

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: Thôn Nậm Pậy, thị trấn Phong Thổ, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Thái.

Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam

Con ông: Vàng Văn Ngh (Sinh năm 1966) và con bà: Lò Thị Ch (Sinh năm 1967).

Hiện bố, mẹ bị cáo đang sinh sống tại bản Tân Phong, xã Xi Pa Phìn, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

Gia đình bị cáo có 04 anh, chị, em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.

Bị cáo có vợ, con: Vợ Lù Thị H - Sinh năm 1985. Bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2009.

Hiện vợ, con bị cáo đang sinh sống tại thôn Nậm Pậy, thị trấn Phong Thổ, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/04/2022 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.

(Có mặt tại phiên tòa).

+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà: Lù Thị H - Sinh năm 1985

Trú tại: Thôn Nậm Pậy, thị trấn Phong Thổ, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

(Có mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ ngày 18/4/2022, Vàng Văn Tr mang theo 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu hồng để trong bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, cất vào trong túi áo khoác bên trái đang mặc, điều khiển xe mô tô BKS 21K1- 262.00 của gia đình theo hướng Mường Tè - xã Pa Tần, huyện Sìn Hồ. Đến hồi 13 giờ 10 phút cùng ngày, khi đi đến Km 296, Quốc lộ 4H thuộc bản Pa Mu, xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn thì Tr bị tổ công tác Công an huyện Nậm Nhùn phát hiện, bắt quả tang thu giữ 01 gói Heroine, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, 01 xe mô tô BKS 21K1 - 262.00 kèm theo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe. Mục đích Tr tàng trữ Heroine là để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng như đã nêu trên.

Tại kết luận giám định số 19 ngày 18/04/2022 của giám định viên tư pháp theo vụ việc, kết luận: Khối lượng gói chất bột khô màu trắng thu giữ của Vàng Văn Tr có tổng khối lượng 0,15 gam (không phẩy mười lăm gam) gửi toàn bộ đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 334/GĐ-KTHS ngày 18/04/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Mẫu chất bột khô màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroin. (không hoàn lại mẫu vật gửi giám định).

Tại bản Cáo trạng số: 31/CT-VKS ngày 25 tháng 07 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Vàng Văn Tr về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 quy định: "Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm):

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…….

Tại phiên tòa hôn nay Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Vàng Văn Tr theo bản cáo trạng và đưa ra các căn cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ, căn cứ vật chứng đã thu giữ 01 (một) gói chất bột khô màu trắng có tổng khối lượng lượng 0,15 gam (không phẩy mười lăm gam) là heroine thu giữ của bị cáo cùng các lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, vị đại diện VKS khẳng định bị cáo đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và đề nghị HĐXX áp dụng Điều 38; Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; Khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo; miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị xử lý vật chứng.

Về phía bị cáo, tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội không oan sai và bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lù Thị H (là vợ của bị cáo) có mặt tại phiên toà, có đơn xin lại xe mô tô BKS 21K1 - 262.00 và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường phần trách nhiệm dân sự.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, Quyết định của Cơ quan điều tra huyện Nậm nhùn, Điều tra viên. Cơ quan Viện kiểm sát huyện Nậm nhùn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng, bị cáo thừa nhận đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội không oan sai.

*Về lời khai của bị cáo: Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo khai nhận rằng: Khi khai nhận trước Cơ quan điều tra, bị cáo không hề bị bức cung, nhục hình; các biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, bị cáo được đọc lại và tự nguyện ký nhận và bị cáo thừa nhận đã tàng trữ trái phép tổng khối lượng 0,15 gam (không phẩy mười lăm gam) heroine để sử dụng cho bản thân. Hội đồng xét xử thấy rằng lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra là tự nguyện, khách quan; biên bản, tài liệu điều tra được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

* Xét quan điểm luận tội của Kiểm sát viên và ý kiến của bị cáo HĐXX thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn tham gia phiên tòa đã đưa ra các căn cứ chứng minh về hành vi phạm tội của bị cáo căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ, căn cứ kết quả mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu vật gửi đi giám định. Kết luận giám định số 334/GĐ-KTHS ngày 20/04/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu đối với mẫu vật thu giữ của bị cáo Tr gửi giám định là ma túy, loại Heroin. Các lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bởi vì những quan điểm này phù hợp với những tài liệu chứng cứ đã được thu thập khách quan có trong hồ sơ vụ án cùng lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay đã cho thấy: Hồi 13 giờ 10 phút, ngày 18/4/2022, tại Km 296, Quốc lộ 4H thuộc bản Pa Mu, xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu, Vàng Văn Tr đã tàng trữ trái phép Heroine có khối lượng 0,15 gam (không phẩy mười lăm gam) với mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Nậm Nhùn phát hiện bắt quả tang. Do đó Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Vàng Văn Tr phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy bản thân bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, học hết lớp 05/12 nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế. Đây là những tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Với những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên vì vậy khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cần xem xét hành vi phạm tội với tính chất của bị cáo đã gây ra, gây bức xúc cho nhân dân địa phương, coi thường pháp luật. Vì vậy phải có hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo và cũng là bài học cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, để cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Không có

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

- 0,15 gam Heroine thu giữ của Vàng Văn Tr gửi giám định toàn bộ, không hoàn lại mẫu vật.

- Tịch thu tiêu hủy vì không có giá trị sử dụng các vật chứng gồm:

Vỏ bì và mảnh nilon, phong bì niêm phong còn lại sau khi mở niêm phong được niêm phong lại; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long (Đây là công cụ bị cáo dùng để phạm tội).

-Ngày 11/7/2022, Lù Thị H trú tại thôn Nậm Pậy, thị trấn Phong Thổ, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu (là vợ của bị cáo) có đơn xin lại xe mô tô BKS 21K1 - 262.00; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Nguyễn Hữu Gi. HĐXX xét thấy đây là tài sản chung của gia đình bị cáo và khi bị cáo dùng chiếc xe mô tô để đi mua ma túy bản thân Lù Thị H không biết, nên cần trả lại cho gia đình bị cáo.

Hiện vật chứng đang bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ đều cho thấy bị cáo lao động tự do, không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Trong vụ án này: Theo lời khai của Vàng Văn Tr, 0,15 gam Heroine bị thu giữ trong vụ án là do Tr nhờ một người đàn ông tại bản Cao Chải, xã Tà Tổng, huyện Mường Tè mua hộ vào ngày 18/4/2022 với giá 100.000 đồng. Kết quả điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên không có căn cứ xử lý.Vậy HĐXX không đặt vấn đề giải quyết vấn đề nêu trên.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Tuyên bố bị cáo: Vàng Văn Tr phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2/Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.

Xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 18/04/2022.

3/Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự miễn hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản đối với bị cáo.

4/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.

+ Tịch thu tiêu hủy vì không có giá trị sử dụng:

- 01 (một) phong bì thư do Công an huyện Nậm Nhùn lưu hành. Mặt trước của bì niêm phong có ghi: Vỏ bì, mảnh nilon sau khi mở niêm phong của Vàng Văn Tr - SN: 1985; Trú tại thôn Nậm Pậy, thị trấn Phong Thổ, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Mặt sau trên mép dán phong bì niêm phong dùng mảnh giấy trắng dán đè lên, có chữ ký và ghi đầy đủ họ tên của: Lò Văn Ví, Lý Văn Hưng, Nguyễn Bá Đoàn, Nguyễn Thành Đạt, Sùng A Ly, Vàng Văn Tr và đóng 02 hình dấu tròn đỏ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu ở hai đầu mép dán.

- 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long .

+ Trả lại tài sản gồm: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius màu đen - trắng biển kiểm soát 21K1 - 262.00 dung tích:110,5 cm3, số khung: C6K0GY348187 số máy: 5C6K348158; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe số 056531 mang tên Nguyễn Hữu Gi cho bà Lù Thị H.

5/Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 BLTTHS và Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, báo cho bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án theo Điều 331; Điều 333 BLTTHS./.

Cỡ chữ