vanban.org

Bản án 45/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Sơn La Tuyên án 24/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt

Tuyên bố bị cáo Lường Thị H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lường Thị H 20 (Hai mươi) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Thị H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NH N D N
T NH S N LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2022/HS-ST
Ngày 24- 01- 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NH N D N T NH S N LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Quản Hữu Chiến.

Thẩm phán: Bà Đinh Thị Mai Lan.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cầm Văn Chinh; bà Bùi Thị Đào; bà Đinh Thị Kim Dung.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Lò Thị Hồng Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 21 và 24 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2021/TLST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử vụ án số 59/2022/HSST-QĐ ngày 04/01/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2022/HSRT-QĐ ngày 14/01/2022 và Thông báo số 81/TB-TA ngày 17/01/2022 về việc mở phiên tòa của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La đối với bị cáo:

Lường Thị H, sinh ngày 16 tháng 10 năm 1990 tại huyện SM, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản Hặp, xã PB, huyện SM, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Công nhân lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn Thoan và bà Lường Thị Dần; có chồng là Cà Văn Phân và 03 con (02 con riêng của chồng, 01 con riêng của bị cáo); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 17/12/2020 đến nay. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Bá L - Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 20 phút ngày 17/12/2020, Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (PC04) Công an tỉnh Sơn La phối hợp với các lực lượng chức năng làm nhiệm vụ tại khu vực bản Nà Pàn, xã Nà Nghịu, huyện SM, tỉnh Sơn La phát hiệu bắt quả tang Lường Thị H đang có hành vi bán trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lường Thị H.

Vật chứng thu giữ: 10 túi nilon (02 túi nilon màu hồng, 08 túi nilon màu xanh) bên trong chứa 1.973 viên nén màu hồng (H khai là ma túy tổng hợp); tạm giữ của H 02 điện thoại di dộng đều nhãn hiệu VIVO, 01 xe máy nhãn hiệu HONDA AIRBLADE biển kiểm soát 26B2-588.90, 01 giấy phép lái xe mang tên Lường Thị H.

Hồi 19 giờ 00 phút ngày 17/12/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC04) Công an tỉnh Sơn La thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng, lấy mẫu trưng cầu giám định: 10 túi nilon (02 túi nilon màu hồng, 08 túi nilon màu xanh) bên trong chứa 1.973 viên nén màu hồng có khối lượng 201,99 gam, trích mỗi túi 05 viên (tổng cộng 50 viên) có khối lượng 5,12 gam làm mẫu trưng cầu giám định, ký hiệu từ H1 đến H10.

Tại Kết luận giám định số 47 ngày 21/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Các mẫu gửi giám định ký hiệu từ H1 đến H10 đều là ma túy; loại Methamphetamine; tổng khối lượng của các mẫu gửi giám định là 5,12 gam.

Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 201,99 gam; loại Methamphetamine.”.

Quá trình điều tra, bị cáo Lường Thị H khai nhận:

Khoảng đầu tháng 10/2020, khi Lường Thị H đang ở nhà tại bản Hặp, xã PB, huyện SM thì có một người phụ nữ tự giới thiệu tên Hoa nhà ở Bắc Giang (không biết rõ họ tên, địa chỉ) gọi điện thoại đặt mua hồng phiến với giá 3.000.000đ/túi. H đồng ý và bảo sẽ đi tìm, khi nào sẽ có liên lạc sau. Đến cuối tháng 10/2020, khi H đang ở nhà thì có người đàn ông tên Minh (nhà ở xã Mường Lầm, huyện SM) đến bán gà, ngan giống. H trao đổi với Minh có khách cần mua hồng phiến với giá 3.000.000đ/túi bảo và Minh tìm mua về bán, Minh đồng ý và nói sẽ đi tìm, khi nào có sẽ thông báo.

Khoảng 05 ngày sau, Hoa gọi điện thoại cho H nói sẽ cho người lên gặp H để trao đổi mua bán ma túy. Khoảng đầu tháng 11/2020 (không nhớ ngày cụ thể), có người đàn ông tự giới thiệu tên Chung (người quen của Hoa) lên gặp H để trao đổi mua bán ma túy. H hẹn gặp Chung tại quán phở thuộc bản Pàn, xã Nậm Ty, huyện SM, tỉnh Sơn La. Khoảng 19 giờ cùng ngày, H bảo Cà Văn Phân (chồng H) chở đến điểm hẹn gặp Chung và Việt (người đi cùng Chung) nhưng do H chưa có ma túy nên Chung và Việt đi về.

Vài ngày sau, khi H đi làm về thấy Minh đang ở nhà H, lúc này Cà Văn Phân bảo H lấy 3.000.000đ trả nợ cho Minh. Nhận tiền của H xong Minh đi về. Sau khi Minh về Phân đưa cho H 01 túi Hồng phiến bảo H cất giấu (Phân nói của Minh đưa). H đem cất giấu dưới đệm ngủ hai vợ chồng. Đến khoảng 07 giờ ngày 16/12/2020, Minh đến nhà H bảo H gọi điện cho người mua ma túy (Chung) lên gặp để trao đổi cụ thể về việc mua bán ma túy. H đã gọi điện thoại cho Chung và hẹn gặp tại nhà nghỉ Trọng Tùng thuộc xã Mường Lầm, huyện SM, tỉnh Sơn La. Khoảng 19 giờ cùng ngày, Chung và Việt gọi điện thông báo đã đến điểm hẹn bảo H ra gặp để trao đổi cụ thể. Còn Minh hẹn H đi vào đường thuộc xã Nậm Mằn, huyện SM để lấy ma túy. Đến sáng ngày 17/12/2020, H cầm theo 01 túi Hồng phiến cất giấu trước đó và 25.000.000đ rồi cùng Phân đi gặp Minh để lấy ma túy nhưng Minh không mang ma túy đến cho H như đã hẹn nên H bảo Phân chở đến nhà người đàn ông dân tộc Mông tên là Li (Ly) - là người quen cũ ở xã Nà Nghịu, huyện SM (không rõ tên bản) hỏi mua ma túy. Khi gặp Li (Ly), H hỏi và mua được của Li 09 túi Hồng phiến với số tiền 25.000.000đ. Sau đó, H cất giấu số ma túy mua được và 01 túi ma túy mang theo trước đó vào túi áo khoác đang mặc rồi gọi điện cho Chung bảo Chung đến khu vực bản Nà Pàn, xã Nà Nghịu, huyện SM, tỉnh Sơn La để trao đổi mua bán ma túy. Một lúc sau, Chung và Việt đi xe ôtô đến gặp H (trước đó H bảo Phân ra bờ sông đứng đợi), khi H đang trao đổi mua bán ma túy với Chung và Việt thì bị Tổ công tác phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng như đã nêu trên, còn Chung và Việt lái xe bỏ chạy thoát.

Về nguồn gốc 1.973 viên nén (gồm 10 túi) có tổng khối lượng 201,99 gam, loại Methamphetamine thu giữ trong vụ án: Lường Thị H khai nhận 09 túi do H mua của người đàn ông dân tộc Mông tên là Li (Ly) ở khu vực bản Huổi Lìu, xã Nà Nghịu, huyện SM, tỉnh Sơn La; còn 01 túi do người đàn ông tên Minh nhà ở xã Mường Lầm, huyện SM, tỉnh Sơn La đưa cho chồng H là Cà Văn Phân.

Do có hành vi nêu trên, tại Cáo trạng số: 153/CT-VKS-P1 ngày 30/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố Lường Thị H về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 21/01/2022: Bị cáo Lường Thị H khai nhận về hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố và khai bổ sung nội dung: Toàn bộ 10 túi hồng phiến Công an thu giữ của H khi bị bắt quả tang là do H mua của người đàn ông dân tộc Mông tên là Li (Ly) ở khu vực bản Huổi Lìu, xã Nà Nghịu, huyện SM, tỉnh Sơn La với số tiền 25.000.000đ (Không liên quan đến người đàn ông tên Minh nhà ở xã Mường Lầm, huyện SM, tỉnh Sơn La và chồng H là Cà Văn Phân)

Do tình trạng sức khỏe của 01 thành viên Hội đồng xét xử không thể tiếp tục tham gia phiên tòa nên Hội đồng xét xử đã quyết định tạm ngừng phiên tòa và phiên tòa tiếp tục mở vào hồi 14 giờ ngày 24/01/2022.

* Tranh luận tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Lường Thị H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

- Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lường Thị H 20 (Hai mươi) năm tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

- Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 196,87 gam Methamphetamine còn lại sau khi đã lấy mẫu gửi giám định, vỏ gói niêm phong ban đầu, 01 chiếc túi giả da không còn giá trị sử dụng;

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh - đen bị cáo đã sử dụng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội;

Trả lại cho bị cáo 01 chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe mang tên Lường Thị H, 01 điện thoại VIVO màu đỏ - đen

Trả lại cho chồng bị cáo Cà Văn Phân 01 chiếc xe mô tô hai bánh nhãn hiệu HONDA loại xe AIRBLADE kèm đăng ký xe mang tên Lường Thị H.

- Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Lường Thị H nhất trí với cáo trạng truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ hiểu biết, nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế; bị cáo có nhân thân tốt; gia đình bị cáo có ông Nội, ông ngoại là người có công; quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Do đó, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, mở lượng khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Nhất trí về mức hình phạt và xử lý vật chứng như ý kiến của kiểm sát viên.

Bị cáo Lường Thị H nhất trí với quan điểm của người bào chữa, không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên cấp huyện và cấp tỉnh trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo

Ngày 17/12/2020, tại khu vực bản Nà Pàn, xã Nà Nghịu, huyện SM, tỉnh Sơn La, Lường Thị H bị bắt người phạm tội quả tang khi đang có hành vi bán trái 1.973 viên nén có tổng khối lượng 201,99 gam Methamphetamine mục đích để kiếm lời.

Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Tổ Công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (PC04) Công an tỉnh Sơn La lập hồi 14 giờ 20 phút ngày 17/12/2020 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Nà Nghịu, huyện SM, tỉnh Sơn La đối với Lường Thị H cùng vật chứng thu giữ là 10 túi nilon (gồm 02 túi màu hồng, 08 túi màu xanh) bên trong có chứa các viên nén màu hồng và màu xanh (H khai nhận là hồng phiến).

- Biên bản mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng lập hồi 19 giờ ngày 17/12/2020 tại Phòng PC04 Công an tỉnh Sơn La xác định bên trong 10 túi nilon thu giữ chứa 1.1973 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 201,99 gam, trích trong mỗi túi 05 viên có tổng khối lượng 5,12 gam ký hiệu từ H1 đến H10 làm mẫu trưng cầu giám định ma túy.

- Kết luận giám định số 47 ngày 21/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Các mẫu gửi giám định ký hiệu từ H1 đến H10 đều là ma túy; loại Methamphetamine; tổng khối lượng của các mẫu gửi giám định là 5,12 gam.

Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 201,99 gam; loại Methamphetamine.”.

- Lời khai nhận tội của bị cáo Lường Thị H tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người chứng kiến và khối lượng ma túy thu giữ trong quá trình bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa.

Với các căn cứ chứng minh trên có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lường Thị H đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.

Về tình tiết định khung hình phạt

Bị cáo Lường Thị H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép 201,99 gam ma túy, loại Methamphetamine đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt “… Methamphetamine … có khối lượng 100 gam trở lên” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo

Hành vi phạm tội của bị cáo Lường Thị H thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nên cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo mới bảo đảm biện pháp trừng trị, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhất là các tội phạm về ma túy trong giai đoạn hiện nay.

[5 Về tình tiết tăng n ng, giảm nh trách nhiệm hình sự

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có ông nội là Lường Văn Hậu được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, ông ngoại là Lường Văn Hơn là gia đình liệt sỹ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung

Ngoài hình phạt chính thì bị cáo Lường Thị H có thể còn bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự nhưng xét bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Đối với các tượng có liên quan

Đối với người đàn ông dân tộc Mông tên Li (Ly) ở khu vực bản Huổi Lìu, xã Nà Nghịu, huyện SM, tỉnh Sơn La: Lường Thị H khai nhận mua 09 túi Methamphetamine của Li (Ly) nhưng kết quả điều tra xác định tại khu vực bản Huổi Lìu không ai tên là Li (Ly) như lời khai của H. Kết quả xác minh đối với ngôi nhà H cho rằng là nhà ở của Li xác định chủ nhà là Sùng Sếnh Pó, sinh năm 1973, trú tại: Bản Huổi Lìu, xã Nà Nghịu, huyện SM, tỉnh Sơn La. Tiến hành thu thập ảnh của Sùng Sếnh Pó nhưng Pó không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra và xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông tên Minh nhà ở xã Mường Lầm, huyện SM, tỉnh Sơn La: Tại cơ quan Điều tra Lường Thị H khai Minh là người đưa cho Cà Văn Phân (chồng bị cáo) 01 túi Methamphetamine. Kết quả điều tra xác định người đàn ông nêu trên là Lục Văn Minh, sinh năm 1982, trú tại: Bản Mường Nưa, xã Mường Lầm, huyện SM. Kết quả điều tra; kết quả đối chất giữa Lục Văn Minh và Lường Thị H xác định Lục Văn Minh có quen biết với Lường Thị H, có được cùng H đi gặp và trao đổi việc mua bán ma túy với người đàn ông tên Chung và Việt nhưng Lục Văn Minh cho rằng không tham gia vào việc mua bán 10 túi Methamphetamine của H; Minh cũng không được đưa cho Cà Văn Phân (chồng của H) 01 túi Methamphetamine như lời khai của H.

Đối với Cà Văn Phân, sinh năm 1985, trú tại: Bản Hặp, xã PB, huyện SM, tỉnh Sơn La là chồng của Lường Thị H. Tại Cơ quan điều tra, H khai Phân đã chở H đến điểm hẹn để gặp Chung và Việt để trao đổi việc mua bán ma túy; nhận 01 túi Methamphetamine từ Lục Văn Minh đưa cho H cất giấu; chở H đến điểm hẹn với Lục Văn Minh để lấy ma túy nhưng Minh không mang ma túy cho H, sau đó Phân tiếp tục chở H đến nhà người đàn ông dân tộc Mông tên Li (Ly) để mua 09 túi Methamphetamine.

Tại phiên tòa bị cáo H thay đổi lời khai và cho rằng toàn bộ 10 túi hồng phiến Công an thu giữ của H khi bị bắt quả tang là do H mua của người đàn ông dân tộc Mông tên là Li (Ly) ở khu vực bản Huổi Lìu, xã Nà Nghịu, huyện SM, tỉnh Sơn La với số tiền 25.000.000đ (Không liên quan đến người đàn ông tên Minh và chồng bị cáo là Cà Văn Phân).

Cơ quan điều tra đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Cà Văn Phân nhưng Phân không có mặt tại địa phương. Do hiện nay chưa bắt được Cà Văn Phân; ngoài lời khai của Lường Thị H thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra và xử lý đối với Lục Văn Minh và Cà Văn Phân về hành vi mua bán trái phép chất ma túy theo quy định của pháp luật.

Đối với người phụ nữ tên Hoa ở Bắc Giang: Lường Thị H khai Hoa là người đặt mua ma túy nhưng H không biết đầy đủ họ tên, địa chỉ của Hoa, chỉ biết Hoa ở Bắc Giang và dùng số điện thoại 0779.331.270. Kết quả điều tra xác định chủ thuê bao của số điện thoại nêu trên có tên Đặng Thùy Anh, sinh năm 1986, trú tại: Phường Thanh Trì, quận Hg Mai, Thành phố Hà Nội. Cơ quan điều tra đã tiến hành ủy thác điều tra, xác minh tại phường Thanh Trì, quận Hg Mai, Thành phố Hà Nội không có ai tên Đặng Thùy Anh nên không có căn cứ để tiếp tục điều tra mở rộng vụ án.

Đối với người đàn ông tên Chung và Việt: Lường Thị H khai đây là người Hoa bảo lên để trao đổi mua bán ma túy, H không biết đầy đủ họ tên, địa chỉ và không nhớ số điện thoại. Đối với xe ô tô biển kiểm soát 30V-7665 và 72K-2399 H khai Chung và Việt sử dụng khi lên trao đổi mua bán ma túy: Kết quả điều tra xác định xe ô tô biển kiểm soát 30V-7665 đăng ký mang tên Nguyễn Thị Hoài (Hằng), trú tại: Tổ 26, phường Thượng Thanh, quận Long Biên, Thành phố Hà Nội nhưng kết quả xác minh tại địa chỉ nêu trên không có ai tên Nguyễn Thị Hoài. Đối với xe ô tô biển kiểm soát 72K-2399 không thu thập được thông tin, dữ liệu có liên quan. Ngoài lời khai của bị cáo Lường Thị H thì không có căn cứ nào khác nên không có cơ sở để xác minh làm rõ.

Về vật chứng

Đối với 196,87 gam Methamphetamine còn lại sau khi đã lấy mẫu gửi giám định: Xét đây là loại hàng Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy cùng vỏ gói niêm phong ban đầu, 01 chiếc túi giả da không còn giá trị sử dụng.

Đối với 01 chiếc xe mô tô hai bánh nhãn hiệu HONDA loại xe AIRBLADE kèm đăng ký xe mang tên Lường Thị H: Kết quả điều tra xác định đây là phương tiện bị cáo Lường Thị H sử dụng làm phương tiện phạm tội, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh - đen: Xét đây là phương tiện bị cáo đã sử dụng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu Đỏ - đen; 01 chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe mang tên Lường Thị H: Xét đây là tài sản, giấy tờ tùy thân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí

Xét bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt

Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lường Thị H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lường Thị H 20 (Hai mươi) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2020.

2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

2.1. Tịch thu tiêu hủy:

- 1.923 viên = 196,87 gam ma túy, loại Methamphetamine + 08 túi nilon màu xanh và 02 túi nilon màu hồng cùng vỏ gói niêm phong ban đầu được niêm phong trong một chiếc phong bì do Công an tỉnh Sơn La phát hành;

- 01 (một) chiếc túi giả da màu đen, kích thước 20x15 cm, đã qua sử dụng.

2.2. Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước:

- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh - đen, điện thoại cảm ứng, đã qua sử dụng;

- 01 (một) chiếc xe mô tô hai bánh nhãn hiệu HONDA loại xe BLADE màu xanh - đen, biển kiểm soát 26B2-588.90, số khung 3644LY010890, số máy JA36E0860285, xe không có gương chiếu hậu, không có chìa khóa xe, đã qua sử dụng; 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe mô tô xe máy số 086299, mang tên Lường Thị H, do Phòng CSGT Công an tỉnh Sơn La cấp ngày 19/10/2020.

2.3. Trả lại cho bị cáo Lường Thị H:

- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu đỏ - đen, điện thoại cảm ứng, đã qua sử dụng;

- 01 (một) Chứng minh nhân dân số 051021812 mang tên Lường Thị H, do Công an tỉnh Sơn La cấp ngày 11/6/2014;

- 01 (một) Giấy phép lái xe số 141188012208 mang tên Lường Thị H do Sở Giao thông vận tải tỉnh Sơn La cấp ngày 19/11/2018.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/11/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh Sơn La và Cục thi hành án dân sự tỉnh Sơn La)

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lường Thị H.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24 tháng 01 năm 2022)./.

Cỡ chữ