- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2022/HS-ST. Ngày: 27 - 5 - 2022. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Thu Thủy
Bà Giàng Thị Máy
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Phương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Điệp - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2022/TLST- ST ngày 20 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2022/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 5 năm 2022, đối với bị cáo:
Lò Văn H; tên gọi khác, không, sinh năm 1979, sinh tại huyện Th, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Tiểu khu 8, xã Ch, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn C (đã chết) và bà Lò Thị D, sinh năm 1954; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 16/11/2016, Công an huyện M, tỉnh Sơn La xử phạt vi phạm hành chính đối với Lò Văn H về hành vi đánh bạc, số tiền 1.500.000 đồng. Lò Văn H chưa chấp hành việc nộp phạt, đến nay đã hết thời hiệu thi hành.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 11/01/2022 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 11/01/2022, Lò Văn H một mình đi bộ quanh trong bản để tìm mua ma túy về sử dụng, Tại đường dân sinh bản Kh, xã Ch, huyện V, H đã gặp và mua được của một người phụ nữ khoảng 50 tuổi không quen biết 01 gói heroine và 01 viên hồng phiến bên ngoài đều gói bằng mảnh nilon màu xanh với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H đi vào bụi cây ven đường lấy viên hồng phiến bẻ ra một ít để sử dụng. Số còn lại H gói lại như ban đầu rồi nhặt một mảnh nilon màu trắng ở ven đường bọc hai gói ma túy lại với nhau và cầm ở lòng bàn tay trái đi về. Khi H đi được một đoạn thì tổ công tác Công an xã Ch đến yêu cầu kiểm tra, H đã tự giác giao nộp gói ma túy cho tổ công tác và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng. Đồng thời dẫn giải Lò Văn H về trụ sở Công an huyện V để điều tra làm rõ.
Ngày 11/01/2022 Cơ quan CSĐT Công an huyện V, phối hợp với VKSND huyện V cùng Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành cân tịnh số chất bột màu trắng khi bắt quả tang Lò Văn H được 0,11 gam; lấy toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu H1; mảnh nén màu hồng được 0,03 gam, lấy toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu H2. Mẫu H1 và H2 đã bàn giao gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, loại ma túy, khối lượng ma túy.
Tại kết luận giám định số 276 ngày 14/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:“Mẫu gửi giám định ký hiệu H1 là ma túy loại heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,11gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu H2 là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,03 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0,11 gam Heroine và 0,03 gam methamphetamine. Mẫu giám định sử dụng hết trong quá trình giám định.
Cáo trạng số: 22/CT - VKS ngày 20/04/2022 của Viện kiểm sát nhân huyện V, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Lò Văn H về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới ảnh hưởng đến nội dung vụ án, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố Lò Văn H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lò Văn H từ 21 (Hai mươi mốt) tháng tù đến 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì đã niêm phong bên trong đựng 01 vỏ gói niêm phong ban đầu + vỏ gói ban đầu; 01phong bì đã niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Lò Văn H.
Bị cáo phải chịu án phí HSST là 200.000 đồng.
Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì khác.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
. Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, Lời khai của người chứng kiến, Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can; cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ; thể hiện: Ngày 11/01/2022, Lò Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 0,11 gam Heroine và 0,03 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Căn cứ quy định tại Chương II nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích các chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự 2015 thì tổng khối lượng chất ma túy thu giữ được của Lò Văn H là 0,11 gam Heroine + 0,03 gam Methamphetamine = 0,14 gam (Dưới 05 gam). Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lò Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý phạm tội. Bản thân đã bị xử phạt vi phạm hành chính nên là người có nhân thân xấu. Vì vậy, cần áp dụng mức án phù hợp với hành vi phạm tội và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Bị cáo Lò Văn H đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy bị cáo không có tài sản có giá trị, không có thu nhập, không đủ điều kiện và khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án:
- Đối với 01 phong bì đã niêm phong bên trong đựng 01 vỏ gói niêm phong ban đầu + vỏ gói ban đầu; 01phong bì đã niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Lò Văn H là vật không còn giá trị sử dụng tuyên tịch thu tiêu hủy.
Về nguồn gốc chất ma túy: Bị cáo khai nhận đã mua của một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết do đó cơ quan CSĐT không có căn cứ để điều tra người đã bán ma túy cho Lò Văn H.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
2. Tuyên bố bị cáo Lò Văn H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Xử phạt bị cáo Lò Văn H 21(Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì đã niêm phong bên trong đựng 01 vỏ gói niêm phong ban đầu + vỏ gói ban đầu; 01phong bì đã niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Lò Văn H
Theo biên bản giao nhận vật chứng số 45/BBVC-CCTHA ngày 26/4/2022.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu án phí HSST là 200.000 đồng.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -Toà án ND tỉnh; - VKSND huyện; - Công an; - Trại giam; - THA hình sự; - THA dân sự; - Bị cáo; - Sở Tư pháp; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Xuân Hiếu |