vanban.org

Bản án 45/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước Tuyên án 19/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Đỗ Ngọc S, Đặng Văn L, Trần Văn T và Trịnh Minh N phạm tội “Đánh bạc”.

Vềvâ ̣t chứ ng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 6.500.000 đồng (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Ngọc Sâm +ĐP - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Đỗ Ngọc S, Đặng Văn L, Trần Văn T và Trịnh Minh N phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÙ GIA MẬP
TỈNH BÌNH PHƯỚC
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:45/2022/HS-ST
Ngày: 19-9-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa:Ông Nguyễn Hữu Thoại

Các Hội thẩm nhân dân:Bà Nguyễn Thị Mùa

Ông Phan Tấn Lãm

Thư ký ghi biên bản phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Anh Đào - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phướctham gia phiên tòa: Ông Dương Xuân Chính- Kiểm sát viên.

Ngày 19tháng 9năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2022/TLST- HS ngày 26tháng8 năm 2022 đối với cácbị cáo:

1.Đỗ Ngọc S, sinh năm 1975, tại: Thanh Hóa; nơi cư trú:Thôn T, xã P, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: (không); quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Viết S (tên gọi khác:Đỗ Ngọc S) (đã chết) và bà Nguyễn Thị K; có vợ và hai người con; tiền án: Ngày 17/3/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập xử phạt 08 tháng tù về tội đánh bạc; tiền sự: (không); nhân thân: Ngày 02/3/1995, bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội cưỡng đoạt tài sản; ngày 25/9/2008,bị Tòa án nhân dân quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; ngày 05/02/2013, bị Ủy ban nhân dân huyện Bù Gia Mập áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc; ngày 07/6/2017, bị Công an huyện Bù Gia Mập xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc;bị bắt tạm giữ , tạm giam từ ngày06/6/2022 đến ngày 12/8/2022; thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp cho bảo lĩnh ngày 12/8/2022; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2.Đặng Văn L (tên gọi khác: H), sinh năm 1968, tại: Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyê ̣n Bù Gia Mâ ̣p, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: (không); quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn T (đã chết) và bà Lương Thị S (đã chết); có vợ và ba người con; tiền án,tiền sự: (không): nhân thân: Ngày 26/02/2021, bị Công an huyện Bù Gia Mập xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc;bị bắt tạm giữ ngày 06/6/2022 đến ngày 12/6/2022; cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 12/6/2022; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3.Trần Văn T, sinh năm 1971, tại: Quảng Trị; nơi cư trú:Thôn T, xã P, huyê ̣n Bù Gia Mâ ̣p, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn:7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: (không); quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần M và bà Nguyễn Thị B; có vợ và hai người con; tiền án, tiền sự: (không); bị bắt tạm giữ ngày 06/6/2022 đến ngày 12/6/2022;cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 12/6/2022; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4.Trịnh Minh N, sinh năm 1974, tại: Bình Dương; nơi cư trú:Thôn K, xã P, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 1/12;dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: (không); quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Chí T (đã chết)và bà Đoàn Thị T (đã chết); có vợ và hai người con; tiền án, tiền sự: (không); bị bắt tạm giữ ngày 06/6/2022 đến ngày 12/6/2022;cấm đi khỏi nơi cư trúngày 12/6/2022; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:Bà Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1976; cư trú tại: Thôn T, xã P, tỉnh Bình Phước; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng14 giờ00 phút ngày 06/6/2022, Trịnh Minh N, Đặng Văn L và Đỗ Ngọc S đến nhà Trần Văn T tại thôn T, xã P, huyện Bù Gia Mập chơi, khoảng 20 phút sau, T rủ N, L và S đánh bạc thắng thua bằng tiền thì tất cả đồng ý. T lấy ra 01 bộ bài tây và 01 cái chăn để tất cả cùng nhau đánh bạc đến 16 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an huyện phối hợp với Công an xã P bắt người phạm tội quả tang.

Hình thức đánh bạc bằng đánh phỏm, cụ thể: Dùng bộ bài tây 52 lá chia làm 04 tụ, mỗi tụ 09 lá bài, người chia được 10 lá bài sẽ đánh trước, số bài còn lại để trên một cái đĩa, ai đánh đầu thì đánh ra 01 lá sang cho người ngồi kế bên, nếu bài người kế bên không ăn được thì bốc lên 01 lá bài rồi đánh ra 01 lá, cứ lần lượt như vậy cho đến khi có người ù hoặc khi hết bài dưới đĩa thì hạ phỏm tính điểm, ai ít điểm nhất thì thắng. Ai ù thì mỗi người chơi phải chung cho người ù 300.000 đồng, nếu người nào nhất thì ăn được người về nhì 50.000 đồng, người về thứ ba 100.000 đồng, người thua chót 150.000 đồng, còn người nào cháy (không có phỏm) thì thua 200.000 đồng.

Vâ ̣t chứ ng trong vụ án: Thu tại chiếu bạc 6.500.000 đồng, 52 lá bài tây và 01 cái chăn kích thước 156cm x 180cm.Thu giữ trên người: Đỗ Ngọc S 2.800.000 đồng, Đặng Văn L 4.500.000 đồng.

Số tiền các bị cáo khai dùng vào viê ̣c đánh ba ̣c: Đỗ Ngọc S 3.700.000 đồng, Đặng Văn L1.300.000 đồng, Trần Văn T 700.000 đồng, Trịnh Minh N 800.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 6.500.000 đồng.

Ngày12/6/2022, Đỗ Ngọc S, Đặng Văn L, Trần Văn T và Trịnh Minh N bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bù Gia Mập khởi tố bị can để điều tra.

Tại bản cáo trạng số 44/CTr-VKS ngày 23/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dânhuyện Bù Gia Mập truy tố các bị cáo Đặng Văn L, Trần Văn T và Trịnh Minh N về tội“Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Đỗ Ngọc S về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Viện kiểm sát quyết định thay đổi quyết định truy tố đối với bị cáo Đỗ Ngọc S về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị:

- Về hinh pha ̣̀

t : Xử phạt bị cáo Đỗ Ngọc S từ 12 tháng đến 15 tháng tù; xử phạt các bị cáo Đặng Văn L, Trần Văn T, Trịnh Minh N mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.

- Về vật chứng:Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 6.500.000 đồng là tiền dùng vào việc đánh bạc;tịch thu tiêu hủy: 52 lá bài tây và 01 cái chăn kích thước 156cm x 180cm là công cụ các bị cáo dùng vào việc đánh bạc không còn giá trị. Trả lại cho các bị cáo: Đỗ Ngọc S 2.800.000 đồng và Đặng Văn L 4.500.000 đồng vì không liên quan đến tội phạm trong vụ án.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng có ý kiến như sau:

- Các bị cáo Đỗ Ngọc S, Đặng Văn L, Trần Văn T và Trịnh Minh N đều đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

- Người làm chứng Nguyễn Thị Mỹ H khai (Bút lục: 132-133): 16 giờ 30 ngày 06/6/2022, bà H đang ngồi bán tạp hóa ở trước nhà thì nghe phía sau có tiếng động, bà đi ra thì thấy Công an bắt quả tang chồng bà cùng S, L, N về hành vi đánh bạc. Bà H không biết việc đánh bạc vì bà ở trước nhà bán tạp hóa.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bù Gia Mập, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáovà người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về áp dụng Bộ luật Hình sự để xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo luật số 12/2017/QH14. Các hành vi phạm tội thực hiện từ ngày 01/01/2018 trở đi thi à ́p du ̣ng Bô ̣ luâ ̣t Hình sự năm 2015 để giải quyết.

Đối chiếu lời khai nhận tội của các bị cáo cơ bản phù hợp vớ i nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứngvàcác tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ về thời gian, địa điểm phạm tội và vật chứng vụ án. Hô ̣i đồng xét xử có đủ cơ sở kết luâ ̣n : Ngày 06/6/2022, Trịnh Minh N, Đặng Văn L, Đỗ Ngọc S và Trần Văn T cùng nhau đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm thắng thua bằng tiền tại thôn T, xã P, huyện Bù Gia Mập. Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an huyện phối hợp với Công an xã P bắt người phạm tội quả tang. Tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 6.500.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội , xâm pha ̣m trâ ̣t tự công cô ̣ng. Các bị cáothực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, động cơ cá nhân, mục đíchđánh bạc sát phạt nhau bằng tiền .Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi củacác bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”.Viện kiểm sát truy tố và luận tộicác bị cáo theokhoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo: Các bị cáocùng nhau đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền; cácbị cáo Trịnh Minh N, Đặng Văn L và Trần Văn T chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo Đỗ Ngọc S có 01 tiền án: Ngày 17/3/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập xử phạt 08 tháng tù về tội đánh bạc; các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng. Vì vậy,cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo S và hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo N, L và T tương xứng với hành vi của từng bị cáo nhằm giáo dục các bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng trâ ̣t tự công cô ̣ng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:Các bị cáo Trịnh Minh N, Đặng Văn L và Trần Văn T có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiê ̣m hinh sự như: “Phạm tộì lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”,“Thành khẩn khai báo , ăn năn hối cải”;bị cáo Đỗ Ngọc S “Thành khẩn khai báo”, bị cáo S có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm”. Đây là những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự được xem xét khi lượng hình quy định tại các điểmi,s khoản 1Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52của Bô ̣ luâ ̣t Hình sự.

Xét cần phải tổng hợp hình phạt của bản án số 07/HSST ngày 17/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập với hình phạt của bản án này để buộc bị cáo S phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án theo quy định tại khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức án đối với các bị cáo cơ bản phù hợp và đề nghị xử lý vâ ̣t chứ ng là có căn cứ,nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về vật chứng:Số tiền 6.500.000 đồng là tiền dùng vào việc đánh bạc nên tịch thu nộp vào ngân sách nhà Nhà nước;52 lá bài tây; 01 cái chăn, kích thước156cm x 180cmlà công cụ các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc xét không còn giá trị, nên tịch thu tiêu hủy. Trả lại cho các bị cáo: Đỗ Ngọc S 2.800.000 đồng và Đặng Văn L 4.500.000 đồng vì không liên quan đến tội phạm trong vụ án.

Án phí hình sự sơ thẩm: Các bịcáo phải chịu theo quy đi ̣nh của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Đỗ Ngọc S, Đặng Văn L, Trần Văn T và Trịnh Minh N phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản1Điều 321; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52;khoản 2 Điều 56;Điều 58; của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Ngọc S 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 08 tháng tù của bản án số 07/HSST ngày 17/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 01 (Một) năm 11 (Mười một) tháng tù, thời hạn thù tính từ ngày thi hành án; được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/02/2021 đến 07/02/2021, từ ngày 23/02/2021 đến 23/5/2021 và từ ngày 06/6/2022 đến 12/8/2022.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Văn L 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng), sung vào ngân sách Nhà nước.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn T25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng), sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trịnh Minh N 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), sung vào Ngân sách Nhà nước.

2.Vềvâ ̣t chứ ng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 6.500.000 đồng (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng).

- Tịch thu tiêu hủy: 52 lá bài tây và01 cái chăn, kích thước 156cm x 180cm.

- Trả lại cho các bị cáo: Đỗ Ngọc S 2.800.000 đồng (Hai triệu tám trăm nghìn đồng) và Đặng Văn L 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

3.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Đỗ Ngọc S, Đặng Văn L, Trần Văn T và Trịnh Minh N mỗi bi ̣ cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghin đồ

̀ng) án phí hình sự sơ thẩm.

4.Cácbị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (19/9/2022).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ