vanban.org

Bản án 45/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 06/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) Xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2022/HS-ST
Ngày: 06 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Minh Thư

Bà Đinh Thị Tuyết Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Thùy là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân

huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long tham

gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Duẩn - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Tân,

tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Lê Văn T, sinh ngày 15/4/1993; tại thành phố C; nơi cư trú: khu vực B,

phường P, quận O, thành phố C; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Công M và bà Trần Thị B; tiền án, tiền sự: không . Bị cáo bị bắt tạm giữ, tam giam từ ngày 03/10/2022 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Trần Thị B, sinh năm 1957. Nơi cư trú: khu vực B, phường P, quận O,

thành phố C. (Vắng mặt)

Người làm chứng: Ông Lê N, sinh năm 1988. Nơi cư trú: tổ 19, ấp T, xã T,

huyện B, tỉnh V. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma túy, ngày 03/10/2022 Lê Văn T điều khiển xe mô tô biển số

65E1-328.06 từ nhà ở khu vực B, phường P, quận O, thành phố C đến khu vực chợ Bà thuộc phường T, thị xã B, tỉnh V gặp một nam thanh niên tên thường gọi là Đ (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) hỏi mua ma túy loại heroine với số tiền 250.000 đồng. Sau đó, T cầm bịch ma túy trên tay trái rồi chạy xe đến nhà vệ sinh của cây xăng số 39 thuộc tổ 19, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh V để sử dụng ma túy. Đây là địa điểm mà T thường xuyên sử dụng ma túy.

Khi T vừa ghé xe vào cây xăng thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra phát

hiện bắt quả tang T đang cầm bịch ma túy trên tay. Công an huyện Bình Tân tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong trong bì thư có chữ ký xác nhận của Lê Văn T (BL: 33 - 35).

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 bịch nilon màu trắng bên trong chứa 01 viên nén màu trắng nghi là ma túy.

- 01 xe mô tô biển số 65E1-328.06 do Lê Văn Tám đứng tên sở hữu.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Tân tiến hành test nhanh chất

ma túy trong người Lê Văn T, kết quả cho thấy Lê Văn T dương tính với chất ma túy loại Heroine.

Căn cứ vào Kết luận giám định số 729/KL-KTHS ngày 08/10/2022 của

Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long, kết luận mẫu giám định là: “01(một) bịch nylon được niêm phong trong bao thư gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3709 gam, loại Heroine”. (BL: 28)

Xét thấy đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an

huyện Bình Tân ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tạm giam bị can T để điều tra cho đến nay.

Trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã chứng minh được như sau:

- Đối với người thanh niên tên Đ bán ma túy nhưng không rõ họ tên, địa chỉ

ở đâu nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

- Đối với 01 xe mô tô biển số 65E1-328.06 là của Lê Văn T đứng tên sử dụng

nhưng việc tàng trữ ma túy không liên quan đến chiếc xe nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Trần Thị B là mẹ ruột của T xong.

Tại Cáo trạng số 49/CT-VKSBT ngày 07/11/2022 của Viện trưởng Viện

kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long đã truy tố bị can Lê Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, sau khi phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, tính chất,

mức độ hành vi phạm tội, hậu quả, nhân thân của bị cáo, năng lực trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Văn T đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s

khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế nên đề

nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ Luật hình sự và Điều 106 của

Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bịch ni lon nhỏ được hàn kín bên trong là ma

túy loại heroin có trọng lượng còn lại sau khi giám định là 0,2962 gam.

Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ

luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo

trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân đã truy tố.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết sai, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Bình

Tân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người

làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng họ không đến phiên tòa. Tuy nhiên, họ có đầy đủ lời khai tại cơ quan điều tra nên sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của

bị cáo tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 03/10/2022 Công an huyện Bình Tân kết hợp công an xã T tiến hành kiểm tra khu vực cây xăng số 39 thuộc tổ 19, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh V phát hiện bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 65E1-328.06 đang chạy vào khu vực nhà vệ sinh của cây xăng nên tiến hành kiểm tra phát hiện trên tay bị cáo cầm bịch ma túy có khối lương 0,3709 gam loại heroin đang cất giữ để sử dụng.

Hành vi trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma

túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật như trong cáo trạng số 49/CT-VKSBT ngày 07/11/2022 cũng như lời luận tội của vị Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, bởi chất heroin là một trong

những chất ma túy được Nhà nước ta độc quyền quản lý, cấm tàng trữ và sử dụng, nếu ai vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc. Bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức được việc tàng trữ ma túy là bị nghiêm cấm cũng như những hệ lụy mà ma túy có thể đem lại nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, sự lên án của xã hội mà bị cáo đã thực hiện. Chính vì vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, bằng việc cách ly khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe giáo dục đối với bị cáo và đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống và ngăn ngừa đối với loại tội phạm này.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo không có tình tiết

tăng nặng nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành

khẩn khai báo do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi lượng hình đối với bị cáo.

Xét bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung

cho bị cáo.

Đối với người thanh niên tên Đ bán ma túy cho bị cáo thì bị cáo không

biết tên và lý lịch cụ thể nên Cơ quan cảnh sát điều tra chưa làm việc được khi nào làm rõ xử lý sau.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của

Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với 01 bịch ni lon nhỏ được hàn kín bên trong là ma túy loại heroin có

trọng lượng sau khi giám định còn lại là 0,2962 gam cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với xe mô tô biển số 65E1-328.06 của bị cáo đứng tên sở hữu nhưng

cơ quan điều tra đã trả lại xong cho mẹ bị cáo là bà B nên không đặt ra xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ

thẩm theo quy định điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của

Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù

tính từ ngày 03 tháng 10 năm 2022.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015

(sửa đổi, bổ sung năm 2017) v à Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong số 729/KL-KTHS bên trong

chứa vỏ bao gói và chất ma túy còn lại sau giám định là 0,2962 gam (Không phẩy hai ngàn chín trăm sáu mươi hai gam).

(Vật chứng hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh

Long đang tạm giữ theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/11/2022)

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình

sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có

quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ