vanban.org

Bản án 45/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị M về việc ly hôn đối với anh Nguyễn Tấn C.

Về hôn nhân: chị Lê Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Tấn C. Về nuôi con chung: chị Lê Thị M được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi con chung tên tên Nguyễn Tấn P, sinh ngày: 10/02/2012, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng được quyền đến thăm nom chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Vì lợi íc… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị M "Tranh chấp ly hôn" Nguyễn Tấn C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị M về việc ly hôn đối với anh Nguyễn Tấn C.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 25-5-2022
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH LONG AN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Phương Trúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Kim Tuyền

2. Bà Ngô Hồng Điệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Lệ Trinh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.

Ngày 25 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 156/2022/TLST – HNGĐ ngaøy 17 thaùng 3 naêm 2022 về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị M, sinh năm: 1985;

Địa chỉ: Ấp 2, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Tấn C, sinh năm: 1983;

Địa chỉ: Ấp 2, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

(Chị M, anh C có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 04/3/2022 và tại Bản tự khai ngày 04/3/2022, nguyên đơn chị Lê Thị M trình bày: chị và anh C cưới nhau vào năm 2010 có đăng ký kết hôn vào ngày 01/11/2010 tại UBND xã L. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do anh C không chăm lo kinh tế cho gia đình và không chung thủy với chị, dù nhiều lần khuyên nhủ nhưng không có kết quả nên vợ chồng ly thân từ tháng 11/2021 đến nay. Nay, xét thấy tình cảm không còn nên chị khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Tấn C.

Về nuôi con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Tấn P, sinh ngày: 10/02/2012, hiện đang sống với chị, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản: không có.

Về nợ chung: vợ chồng không có nợ chung.

Chị M có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.

Tại Bản tự khai không đề ngày tháng năm, bị đơn anh Nguyễn Tấn C trình bày: Anh đồng ý ly hôn với chị M vì vợ chồng không còn khả năng hàn gắn.

Về nuôi con chung: anh đồng ý để chị M tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Tấn P, sinh ngày: 10/02/2012, anh không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Anh C có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Thị M và anh Nguyễn Tấn C có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt; Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xử vắng mặt chị M và anh C.

. Về nội dung: Chị Lê Thị M và anh Nguyễn Tấn C cưới nhau vào năm 2010 và đăng ký kết hôn vào 01/11/2010 tại UBND xã L, huyện C, tỉnh Long An là hôn nhân hợp pháp. Chị M khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh C là quan hệ tranh chấp ly hôn và nuôi con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo qui định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Nguyên nhân dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn theo chị M trình bày là do trong quá trình chung sống anh C không quan tâm đến gia đình và không chung thủy với chị. Anh C không trình bày nguyên nhân mâu thuẫn nhưng đồng ý ly hôn vì cho rằng vợ chồng không còn khả năng hàn gắn. Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng chị M và anh C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận cho chị M được ly hôn với anh C theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

. Về nuôi con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Tấn P, sinh ngày: 10/02/2012, hiện đang sống với chị M đã ổn định; cháu P có nguyện vọng muốn sống cùng chị M và anh C cũng đồng ý để chị M tiếp tục nuôi con chung nên việc chị M yêu cầu tiếp tục được nuôi con là phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên cần chấp nhận.

Chị M tự nguyện không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con nên không xét. Anh C không trực tiếp nuôi con nhưng được quyền đến thăm nom chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con sau này. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

. Về tài sản chung và nợ chung: Chị M và anh C trình bày tài sản chung và nợ chung không có nên không xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về chia tài sản và nợ chung thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác.

. Về án phí: chị M phải chịu án phí theo qui định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị M về việc ly hôn đối với anh Nguyễn Tấn C.

Về hôn nhân: chị Lê Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Tấn C.

Về nuôi con chung: chị Lê Thị M được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi con chung tên tên Nguyễn Tấn P, sinh ngày: 10/02/2012, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng được quyền đến thăm nom chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Về án phí: chị Lê Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0006018 ngày 14/3/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Long An. Chị M đã nộp đủ án phí.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ