vanban.org

Bản án 45/2021/HSST — Hình sự

TAND Quận 5, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Lâm Thị N 09 (chín) tháng 15 (mười lăm) ngày tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2021.

Trả tự do cho bị cáo Lâm Thị N tại phiên tòa, nếu bị cáo N không bị tạm giam về một tội khác. Bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Thị N phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lâm Thị N 09 (chín) tháng 15 (mười lăm) ngày tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2021.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2021/HSST
Ngày: 26/10/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Đoàn Hồng Hải

Ông Lâm Văn Vô

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Đức Thành – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Văn Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2021/TLST-HS ngày 06/05/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 84/2021/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Lâm Thị N, sinh năm 1964 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính Nữ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Làm công; Học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; con ông: Lâm Văn L; con bà: Nguyễn Thị Y; Có chồng tên Kha Văn T, có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1996; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 21/11/1998 bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thừ thách là 24 (hai mươi bốn) tháng.

Bị cáo bị bắt tạm giam (theo quyết định truy nã) từ ngày 11/01/2021 (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 09 năm 2019, Trầm Văn T cùng với Lê Văn H, Đặng Văn K và Phạm Ngọc T1 cùng nhau tổ chức sòng bạc bằng hình thức đổ bầu, cua để phục vụ các con bạc đến sát phạt. T là người đi mua dụng cụ gồm 01 xô nhựa màu xanh, 01 mâm kim loại, 03 hột xí ngầu (xúc sắc) bằng mút hình khối lập phương có hình 06 con vật, đồ vật N (nai), B (bầu), G (gà), C (cá), C (cua), T (tôm), 01 cây bút lông màu xanh. Sòng bạc được tổ chức tại bãi đất trống đối diện số 150 Phùng Hưng, Phường 14, Quận 5, hoạt động từ 17 giờ đến 20 giờ, mỗi người lần lượt bỏ ra 500.000 đồng làm cái, nếu thua hết 500.000 đồng thì người khác sẽ vào thế, cuối ngày tổng kết chia đều tiền cho 4 người. Cách thức chơi là nhóm của T sẽ vẽ chữ N (nai), B (bầu), G (gà), C (cá), C (cua), T (tôm) xuống nền gạch vỉa hè và cho người chơi đặt tiền vào các ô tương ứng, nhà cái sẽ đổ 03 con xí ngầu (xúc sắc) nếu người chơi trúng 1 con ăn 1:1, trúng 2 con ăn 1:2, trúng 3 con ăn 1:3, nếu không trúng con nào thì nhà cái sẽ ăn hết số tiền đặt. Mỗi khi mở sòng cho người chơi thì T, K, H thay nhau ngồi đổ còn T1 thì trông giữ xe cho người dân xung quanh đồng thời giữ xe cho người chơi và cảnh giới công an. Số tiền người chơi đặt được giới hạn từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng.

Khoảng 18 giờ ngày 03/10/2019, tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an Quận 5 kết hợp Công an Phường 14, Quận 5 kiểm tra tụ điểm nói trên phát hiện một nhóm đối tượng đang tụ tập đánh bạc dưới hình thức lắc bầu cua. Tổ công tác đã bắt giữ được 07 đối tượng đánh bạc gồm: Trầm Thị Bích S, Đỗ Văn T2, Trần Văn H, Lâm Thị N, Nguyễn Minh T3, Ngô Thành L và Ngô Ngọc T4; 01 đối tượng tổ chức đánh bạc là Phạm Ngọc T1 (có vai trò cảnh giới, giữ xe cho các con bạc), còn 03 đối tượng trực tiếp tổ chức đánh bạc là Trầm Văn T, Lê Văn H, Đặng Văn K không bắt giữ được. Vật chứng thu giữ được gồm có: Thu trên chiếu bạc 2.600.000 đồng, 01 mâm kim loại màu trắng, 01 xô nhựa màu xanh, 03 hột xí ngầu (xúc sắc) bằng mút hình khối lập phương có hình 06 con vật, đồ vật N (nai), B (bầu), G (gà), C (cá), C (cua), T (tôm), 01 cây bút lông; thu của Phạm Ngọc T1 số tiền 1.070.000 đồng; thu của Trầm Thị Bích S số tiền 7.300.000 đồng và 01 điện thoại di động SamSung; thu của Đỗ Văn T2 số tiền 3.125.000 đồng, 01 điện thoại đi động Iphone 6 và 01 điện thoại di động Nokia; thu của Trần Văn H số tiền 2.480.000 đồng và 01 điện thoại di động Nokia; thu của Lâm Thị N số tiền 1.502.000 đồng và 01 điện thoại di động MobiStar; thu của Nguyễn Minh T3 số tiền 1.000.000 đồng và 01 điện thoại di động Nokia; thu của Ngô Ngọc T4 số tiền 710.000 đồng và 01 điện thoại di động SamSung J7 Pro; thu của Ngô Thành L số tiền 112.000 đồng và 01 điện thoại di động không rõ hiệu. Tổ công tác đưa các đối tượng và tang vật về Công an phường 14, Quận 5 lập biên bản phạm tội quả tang.

Tiến hành truy xét các đối tượng tổ chức sòng bầu cua ăn tiền, Công an Quận 5 đã triệu tập đối tượng Trầm Văn T lên làm việc. T khai nhận: Khoảng đầu tháng 09 năm 2019, T cùng với Lê Văn H, Đặng Văn K, Phạm Ngọc T1 tổ chức sòng bầu, cua tại bãi đất trống đối diện nhà 150 Phùng Hưng, phường 14, Quận 5. T là người đi mua dụng cụ gồm 01 xô nhựa màu xanh, 01 mâm kim loại, 03 hột xí ngầu bằng giấy, 01 cây bút lông màu xanh. Ngày 03/10/2019, T đi khám bệnh nên nhờ K ứng tiền trước. K, H ngồi làm cái, T1 ở ngoài coi xe. Khi đang chơi thì bị công an đến kiểm tra, H và K chạy thoát còn T1 và các con bạc bị bắt đưa về Công an phường lập biên bản. T chỉ biết H, K ngoài xã hội không rõ lai lịch.

Phạm Ngọc T1 khai nhận: T1 cùng với T, K, H tổ chức sòng bầu, cua tại bãi đất trống đối diện nhà 150 Phùng Hưng, Phường 14, Quận 5. Sòng bài hoạt động từ 17 giờ đến 20 giờ mỗi ngày. Mỗi người bỏ ra 500.000 đồng làm cái, nếu thua thì người khác sẽ vào thế. Cuối ngày tiền thắng thua sẽ chia đều cho 4 người. Số tiền người chơi đặt từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng, trúng 1 con ăn 1:1, trúng 02 con ăn 1:2, trúng 3 con ăn 1:3. Ngày 03/10/2019, T1 chưa đến lượt làm cái nên ở ngoài giữ xe, cảnh giới công an. Khi Công an đến kiểm tra thì T1 vừa đi mua cà phê về đến sòng bạc thì bị bắt. H, K là bạn chơi ngoài xã hội, T1 không rõ lai lịch.

Trầm Thị Bích S khai nhận: Sơn biết chồng là Phạm Ngọc T1 và anh trai là Trầm Văn T cùng K, H có tổ chức sòng bầu cua tại địa điểm trên. Khoảng 17 giờ 30 ngày 03/10/2019, S mang theo 7.000.000 đồng để tham gia đánh bạc. S đặt được khoảng 10 ván, đặt từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng. Đến 18 giờ cùng ngày, S đang đặt 02 con Nai, Gà với số tiền 50.000 đồng/ con thì bị Công an kiểm tra, lúc này S đang thắng bạc 300.000 đồng, số tiền bị giữ 7.300.000 đồng.

Đỗ Văn T2 khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 03/10/2019, T2 mang theo 2.925.000 đồng đến sòng bạc bầu cua của T, T1, K, H để đánh bạc. T2 đặt cược với nhà cái, đồng thời “đá” ngang với con bạc khác. Đến 18 giờ, T2 đang đặt ô con Nai số tiền 200.000 đồng thì bị công an kiểm tra. Lúc này T2 đã đặt được khoảng 7-8 ván thắng được 700.000 đồng - 800.000 đồng. Khi Công an kiểm tra, T2 vứt bỏ lại một phần, số tiền còn đang giữ trên tay 1.200.000 đồng, trong túi là 1.925.000 đồng, tổng cộng bị thu giữ 3.125.000 đồng. T2 đã chơi tại sòng bạc này khoảng 03 lần.

Ngô Ngọc T4 khai nhận: Khoảng 17 giờ 30 ngày 03/10/2019, T4 mang theo 610.000 đồng để đánh bạc. Đến 18 giờ, T4 đang đặt ô B (bầu), C (cua) với số tiền 50.000 đồng/ con thì bị Công an kiểm tra. Lúc này T4 đã đặt được khoảng 08 ván đang thắng 100.000 đồng, số tiền bị giữ 710.000 đồng. T4 đã chơi tại sòng bạc này khoảng 04 lần.

Lâm Thị N khai nhận: Khoảng 17 giờ 30 ngày 03/10/2019, N mang theo 1.602.000 đồng và đã sử dụng 300.000 đồng để đánh bạc. Đến 18 giờ, N đang đặt ô C (cá), T (tôm) với số tiền 50.000 đồng/ con thì bị công an kiểm tra. Lúc này N đã đặt được khoảng 03 ván đang hòa vốn, số tiền 100.000 đồng đặt trên chiếu bạc, số tiền bị giữ 1.502.000 đồng. N đã chơi tại sòng bạc này khoảng 07 lần.

Trần Văn H khai nhận: Vào khoảng 17 giờ 20 ngày 03/10/2019, H mang theo 2.080.000 đồng để đánh bạc. Đến 18 giờ, H đang đặt ô C (cua), B (bầu) với số tiền 50.000 đồng/ con thì bị công an kiểm tra. Lúc này, H đã đặt được 05 ván đang thắng 500.000 đồng, số tiền 100.000 đồng đặt trên chiếu bạc, số tiền bị giữ 2.480.000 đồng. H đã chơi tại sòng bạc này khoảng 02 lần.

Ngô Thành L khai nhận: Vào khoảng 17 giờ 45 ngày 03/10/2019, L mang theo 312.000 đồng để đánh bạc. Đến 18 giờ, L đang đặt ô C (cua) với số tiền 200.000 đồng thì bị công an kiểm tra, số tiền bị giữ 112.000 đồng. L đã chơi tại sòng bạc này khoảng 07 lần.

Nguyễn Minh T3 khai nhận: Vào khoảng 17 giờ 30 ngày 03/10/2019, T3 mang theo 1.200.000 đồng để đánh bạc. Khi Công an kiểm tra, T3 đang thua 200.000 đồng, còn lại 1.000.000 đồng. Do T3 phải chăm sóc người thân tại bệnh viện nên không có mặt theo giấy triệu tập của Công an Quận 5 nên bị Công an quận 5 quyết định truy nã bị can. Ngày 30/09/2020 Nguyễn Minh T3 trở về địa phương được thông báo sự việc nên đến Công an Quận 5 trình diện.

Ngày 15/12/2020, Tòa án nhân dân Quận 5 tiến hành xét xử đối với Phạm Ngọc T1, Lê Văn H, Đặng Văn K, Trầm Thị Bích S, Đỗ Văn T2, Trần Văn H, Ngô Thành L, Ngô Ngọc T4 và Nguyễn Minh T3 (tại Bản án hình sự số 134/2020/HSST ngày 15/12/2020 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).

Đối với Trầm Văn T, Lâm Thị N không có mặt tại địa phương, có dấu hiệu bỏ trốn, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 5 thực hiện thủ tục truy nã và tách hồ sơ để xử lý sau khi bắt được bị can. Đến ngày 11/01/2021, Lâm Thị N bị bắt theo quyết định truy nã.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) điện thoại di động màu trắng, số Imei: 013556003659162; 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy J7 Prime Imei1: 353415/08/724031/6, Imei2: 353416/08/724031/4; 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy J7 Pro Imei1: 356446/08/633381/7, Imei2: 356447/08/633381/5; 01 (một) điện thoại di động Nokia màu đen, số Imei1: 355812092251791; 01 (một) điện thoại di động Nokia màu đen, số Imei: 358604/06/25962/0; 01 (một) điện thoại di động Mobistar B221 màu đen, số Imei: 3522211220211517; 01 (một) điện thoại di động hiệu MI màu trắng; 01 (một) điện thoại di động iphone 6 Plus 16Gb màu trắng, số Imei: 355878064890866; 01 (một) điện thoại di động Nokia màu đen, model TA-1017, số Imei: 357333085611303; 01 (một) cây viết lông màu xanh; 03 (ba) hột xí ngầu có in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 01 (một) cái xô màu xanh; 01 (một) cái mâm bằng kim loại, số tiền 19.899.000 đồng (mười chín triệu tám trăm chính mươi chín nghìn đồng). Tất cả vật chứng trên đã được giải quyết tại Bản án hình sự số 134/2020/HSST ngày 15/12/2020 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bản cáo trạng số: 49/CTr-VKS ngày 28/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lâm Thị N về tội: “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với Lâm Thị N về tội “Đánh bạc”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lâm Thị N với mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo N; Về vật chứng đã được giải quyết tại Bản án hình sự số 134/2020/HSST ngày 15/12/2020 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh nên đề nghị không xem xét giải quyết.

Bị cáo không có ý kiến tự bào chữa, tranh luận và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 5, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Qua thẩm tra xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, bị cáo Lâm Thị N đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai của Phạm Ngọc T1, Lê Văn H, Đặng Văn K, Trầm Thị Bích S, Đỗ Văn T2, Trần Văn H, Ngô Thành L, Ngô Ngọc T4 và Nguyễn Minh T3, cùng với vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Phạm Ngọc T1, Lê Văn H, Đặng Văn K cùng với Trầm Văn T đã có hành vi tổ chức đánh bạc bằng hình thức lắc bầu cua cho bị cáo Lâm Thị N, Trầm Thị Bích S, Đỗ Văn T2, Trần Văn H, Ngô Thành L, Ngô Ngọc T4, Nguyễn Minh T2 và chơi ăn thua bằng tiền. Khi Công an kiểm tra đã bắt quả tang và thu giữ tổng số tiền mà bị cáo cùng với những đối tượng nêu trên dùng vào việc đánh bạc là 18.829.000 đồng (mười tám triệu tám trăm hai mươi chín nghìn đồng). Như vậy, hành vi của bị cáo Lâm Thị N đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét bị cáo là người trưởng thành, có khả năng nhận thức hành vi phạm tội của mình, bị cáo biết rất rõ Nhà nước ta nghiêm cấm mọi hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc dưới nhiều hình thức nhưng vì hám lợi mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Lâm Thị N phạm tội có nhân thân xấu, từng bị Tòa án xét xử về tội Tổ chức đánh bạc nhưng không biết sửa đổi, rèn luyện bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội mà lại tiếp tục phạm tội. Trong thời gian được tại ngoại đã bỏ đi khỏi địa phương, không trình báo cơ quan Công an và đã bị Cơ quan Công an ra quyết định truy nã. Vì vậy, cần buộc bị cáo N phải chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo phạm tội nhằm mục đích hưởng lợi nhưng vì có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không xem xét áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.

Đối với Phạm Ngọc T1, Lê Văn H, Đặng Văn K, Trầm Thị Bích S, Đỗ Văn T2, Trần Văn H, Ngô Thành L, Ngô Ngọc T4 và Nguyễn Minh T3 đã bị xét xử tại Bản án hình sự số 134/2020/HSST ngày 15/12/2020 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh nên không xem xét.

Đối với Trầm Văn T không có mặt tại địa phương, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 5 đã ra quyết định truy nã, khi nào bắt được sẽ xem xét xử lý sau.

Về xử lý vật chứng: Về vật chứng thu giữ đã được giải quyết tại Bản án hình sự số 134/2020/HSST ngày 15/12/2020 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 321; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Lâm Thị N 09 (chín) tháng 15 (mười lăm) ngày tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2021.

Căn cứ Khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Trả tự do cho bị cáo Lâm Thị N tại phiên tòa, nếu bị cáo N không bị tạm giam về một tội khác.

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ