- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo K’ Thiệp phạm tội: “Trốn khỏi nơi giam”. - phạm tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải, đang bị xét xử (điều 386 L…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo K’ Thiệp phạm tội: “Trốn khỏi nơi giam”.
- Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 386 Bộ luật hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LÂM TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2020/HSST Ngày: 28/9/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LÂM, TỈNH LÂM ĐỒNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hồ Thị Hồng Liên.
2. Bà Lê Thị Sáu.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thị Thúy Thành - cán bộ Tòa án.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Lĩnh – Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm.
Ngày 28 tháng 9 năm 2020, tại Hội trường Trại giam Đại Bình-Cục C10 Bộ công an; địa chỉ: Thôn 11, xã Lộc Thành, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng xét xử công khai, lưu động sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 51/2020/HSST ngày 03/9/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: K’T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1979; Nơi sinh: tỉnh Lâm Đồng; NKTT: Thôn 2, xã Liêng Srônh, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: K’Ho; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông Jo Sếp Ba và bà Ka Wêt; Vợ: Ka Duyên, có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền án: Tại bản án số 82/2019/HS-ST ngày 21/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt K’T 05 năm tù về tội Hiếp dâm; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/4/2019 trong vụ án hiếp dâm, đến chấp hành án tại trại giam Đại Bình theo Quyết định số 366/QĐ-C10-P7 ngày 14/01/2020 của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an. Ngày 21/4/2020 bị cáo bỏ trốn đến ngày 22/4/2020 bị bắt lại. Hiện đang bị tam giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng. “Bị cáo có mặt tại phiên tòa”.
NHẬN THẤY:
K’T là phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam Đại Bình thuộc Cục C10 Bộ Công an đóng tại xã Lộc Thành, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng theo Bản án số 82/2019/HS-ST ngày 21/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, lao động tại đội phạm nhân số 24 thuộc phân trại số 1. Vào sáng ngày 21/04/2020, K’T được cán bộ quản giáo đưa đi lao động tại nhà lô 24, phân công làm công việc dọn cỏ cà phê. Đến 10 giờ 30 cùng ngày, cán bộ quản giáo cho phạm nhân tập hợp để vệ sinh dụng cụ lao động, tay chân chuẩn bị vệ nhập trại. Lúc này, K’T đang vệ sinh cá nhân thì phát hiện cán bộ quản giáo đang tập trung đôn đốc các phạm nhân khác, không để ý đến mình nên nảy sinh ý định trốn trại về nhà thăm gia đình. K’T lẻn ra phía sau vườn cà phê nhà lô 24, chạy về phía đồi cà phê của người dân sau đó bơi qua sông Đại Bình, bỏ trốn về hướng xã Tân Lạc, huyện Bảo Lâm. Đến 07 giờ 15 ngày 22/04/2020, K’T bị cán bộ Trại giam Đại Bình bắt theo lệnh truy nã khi đang đi trên đường thuộc xã Tân Lạc, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
Tại bản cáo trạng 46/CTr-VKS ngày 27/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố bị cáo K’T về tội “Trốn khỏi nơi giam” theo quy định tại khoản 1 Điều 386 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 386; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 18 tháng tù; Áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt chung của hai bản án và buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
“Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:”
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bảo Lâm, của Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp lời khai của những người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đã có cơ sở xác định:
Trong lúc chờ cán bộ Trại giam Đại Bình làm thủ tục tập trung phạm nhân để nhập trại sau giờ lao động buổi sáng ngày 21/4/2020, bị cáo K’T đã nảy sinh ý định trốn khỏi Trại giam Đại Bình để về thăm gia đình. Khi thấy cán bộ đang bận rộn việc tập trung phạm nhân và không để ý đến mình, bị cáo K’T đã lén đi ra phía sau vườn cà phê nhà lô 24, chạy nhanh về phía vườn cà phê người dân rồi bơi qua sông Đại Bình để trốn thoát khỏi Trại giam Đại Bình về hướng xã Tân Lạc, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng. Hành vi của bị cáo K’T đã phạm vào tội “Trốn khỏi nơi giam” theo quy định tại khoản 1 Điều 368 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến hoạt động đúng đắng của các cơ quan tư pháp, gây trở ngại cho sự hoạt động bình thường của Trại giam Đại Bình và gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn nơi giam giữ, gây hoang man lo lắng cho các phạm nhân khác. Do vậy cần phải xử cho bị cáo mức án thật nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục cho bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đang chấp hành án về tội “Hiếp dâm” theo bản án số 82/2019/HS-ST ngày 21/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Trong thời gian này, lẻ ra bị cáo phải ăn năn hối cải, tu chí cải tạo tốt để được sớm trở về làm lại cuộc đời, bù đắp cho vợ con gia đình những tháng ngày lầm lỗi bị cải tạo trong trại giam nhưng bị cáo lại phạm tội mới. Lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên cần áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xem xét, cân nhắc khi lượng hình và cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của hai bản án buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo là người dân tộc thiểu số, không biết chữ nên nhận thức pháp luật hạn chế. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Về án phí, lệ phí tòa án: Áp dung Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo K’ Thiệp phạm tội: “Trốn khỏi nơi giam”.
Áp dụng khoản 1 Điều 386; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo K’ Thiệp 15 (Mười lăm) tháng tù.
Áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt của bản án này với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án số 82/2019/HS-ST ngày 21/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng là 03 năm 07 tháng 01 ngày tù, bị cáo còn phải chấp hành hình phạt 04 năm 10 tháng 01 ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/9/2020.
2. Về án phí: Áp dung Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7; Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (28/9/2020) để yêu cầu Tòa án tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng (2); - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Bảo Lâm; - Chi cục THADS H Bảo Lâm; - Bị cáo, ĐDHP của người bị hại; - Lưu hồ sơ. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Hồ Thị Hồng Liên Lê Thị Sáu | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Linh CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Linh |