vanban.org

Bản án 45/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 14/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2021/HS-ST
Ngày: 14/12/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Minh Hòa

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Ngọc Hòa

2. Ông Nguyễn Văn Sỹ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Thế Nữ Diệu Hiền là Thư ký Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Văn Lê Hoài Khiêm là Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2021/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2021, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2021/HSST-QĐ ngày 03 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Trần Ngọc H, tên gọi khác: Không; sinh năm: 2000 tại huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Thôn V, xã P, huyện T, tỉnh B; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Con ông: Trần Bình Th, sinh năm 1957 và bà Đoàn Thị N, sinh năm 1964; Vợ, con: không; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 24/9/2021, bị Công an huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định khởi tố về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/8/2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Quy Nhơn, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 24/8/2021, Trần Ngọc H cùng bạn gái là Nguyễn Thị Mỹ T đến TP. Quy Nhơn thuê phòng số 204 nhà nghỉ P thuộc tổ 3, khu vực 8, phường Trần Quang Diệu, TP. Quy Nhơn để ở. Khoảng 06 giờ ngày 25/8/2021, H liên lạc với một người tên Ca (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 gói ma túy đá với giá 200.000 đồng. Sau đó, Ca đến trước nhà nghỉ P giao cho H 01 gói ma túy đá được đựng trong 01 hộp giấy. Sau khi có ma túy, H lấy một ít ra sử dụng một mình tại nhà vệ sinh phòng số 204 rồi cất số ma túy còn lại trong hộp giấy, đặt trong góc phòng gần cửa nhà vệ sinh. Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, H gọi K đến phòng số 204 để trả tiền nợ. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, Đội CSĐTTP về ma túy Công an TP. Quy Nhơn phối hợp với Công an P. Trần Quang Diệu, TP. Quy Nhơn kiểm tra hành chính phòng số 204 nhà nghỉ P phát hiện, bắt quả tang thu giữ số tang vật nêu trên.

Theo Kết luận giám định số 265/PC09 ngày 27/8/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Định kết luận: Các hạt tinh thể đựng bên trong 01 gói nilon được kít kín gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,7170 gam ma túy loại Methamphetamine.

Methamphetamine nằm trong danh mục chất ma túy và tiền chất có số TT là 323, danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ.

Vật chứng vụ án, Cơ quan điều tra đã tạm giữ:

- 01 bì thư dán kín niêm phong 05 dấu tròn của “Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Định”, có chữ ký của Lê Tuấn T, Nguyễn Thành Tr và Lê Hữu N (tất cả đều 01 chữ ký), bên ngoài bì thư ghi: “Hoàn lại đối tượng giám định gồm: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật còn lại sau giám định; 0,4975 gam mẫu A còn lại sau giám định”.

- 01 hộp giấy màu trắng kích thước 18x6,5x1,5cm.

- 01 vỏ chai nhựa có gắn ống hút dùng để sử dụng ma túy.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s, mặt trước màu trắng, mặt sau màu vàng, có số IMEI: 355689071977798, bên trong có lắp sim số 0777537910 (không kiểm tra chất lượng bên trong)

Bản cáo trạng số 198/CT - VKSQN ngày 08 tháng 11 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo Trần Ngọc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Trần Ngọc H có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,7170 gam Methamphetamine để sử dụng nên Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù; Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; Trả cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s nhưng tạm giữ để đảm báo thi hành án.

Bị cáo không tự bào chữa

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, xin Tòa giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quy Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Trần Ngọc H có đầy đủ sức khỏe, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình, bị cáo biết rất rõ việc sử dụng ma túy lâu dài sẽ gây nghiện, gây tác hại rất lớn, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm nên việc cất giữ, mua bán, sử dụng các chất ma túy phải theo quy định đặc biệt của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhưng bị cáo lại chủ động liên lạc mua 01 (một) gói ma túy đá với giá 200.000đ từ một người tên Ca để sử dụng. Ngày 25/8/2021, Đội CSĐTTP và ma túy Công an thành phố Quy Nhơn phối hợp với Công an phường Trần Quang Diệu kiểm tra hành chính phòng 204 nhà nghỉ P, nơi bị cáo đang thuê phòng nghỉ thì bắt quả tang bị cáo H đang cất giấu ma túy trong góc phòng, gần cửa nhà vệ sinh, khi bị phát hiện, bị cáo cũng chủ động thừa nhận đây là số ma túy mà bị cáo mua để sử dụng. Theo Kết luận giám định số 265/PC09 ngày 27/8/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Định thì “Các hạt tinh thể đựng bên trong 01 gói nilon được kít kín gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,7170 gam ma túy loại Methamphetamine”. Methamphetamine nằm trong danh mục chất ma túy và tiền chất có số thứ tự 323, Danh mục II, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ nên bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Hành vi tàng trữ trái phép các chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo, răn đe và phòng ngừa loại tội phạm này trong xã hội.

Tuy nhiên, tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, số ma túy tàng trữ không nhiều nên xử bị cáo với mức án có lý, có tình như đề nghị của Kiểm sát viên để bị cáo an tâm cải tạo sớm tái hòa nhập với cộng đồng.

Đối với đối tượng tên Ca đã bán ma túy cho bị cáo, bị cáo không biết họ tên, địa chỉ của người này. Cơ quan điều tra chưa xác định được đối tượng nên chưa có căn cứ để xem xét hành vi của họ trong vụ án, sau này điều tra, làm rõ có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với Nguyễn Thị Mỹ T và Huỳnh Trung K là những người có mặt tại phòng số 204 vào thời điểm bị bắt quả tang nhưng cả hai đều không biết, không giúp sức gì cho việc H mua, cất giấu và sử dụng ma túy nên T và K không phạm tội.

Về xử lý vật chứng:

Số ma túy đang thu giữ còn lại sau giám định là vật chứng của vụ án không có giá trị kinh tế nên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6s, mặt trước màu trắng, mặt sau màu vàng, có số IMEI: 355689071977798, bên trong có lắp sim số 0777537910 là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí:

Bị cáo bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo Trần Ngọc H 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 25/8/2021.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu, tiêu hủy:

+ 01 (một) bì thư dán kín niêm phong 05 dấu tròn “Phòng kĩ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Định”, có chữ ký của Lê Tuấn T, Nguyễn Thành Tr và Lê Hữu N (tất cả đều 01 chữ ký), bên ngoài bì thư ghi: “Hoàn lại đối tượng giám định gồm: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật còn lại sau giám định; 0,4975 gam mẫu A còn lại sau giám định;

+ 01 hộp giấy màu trắng kích thước 18x6,5x1,5cm;

+ 01 vỏ chai nhựa có gắn ống hút dùng để sử dụng ma túy.

- Trả lại cho bị cáo Trần Ngọc H 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s, mặt trước màu trắng, mặt sau màu vàng, có số IMEI: 355689071977798, bên trong có lắp sim số 0777537910 (không kiểm tra chất lượng bên trong) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/12/2021 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/12/2021).

Cỡ chữ