- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Phi Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự - phạm tội tàng trữ…"
- Tòa quyết gì? 1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Phi Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2021/HS-ST Ngày 20 – 9 – 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Mua
2. Ông Nguyễn Hoàng Tiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Kim Huyền – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Lộc – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2021/TLST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:
Trần Phi Đ, sinh năm 1994 tại huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: ấp Phú Trường, xã Song Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc G và bà Nguyễn Thị Hồng L.
Tiền án: Không.
Tiền sự: 01 tiền sự. Bị cáo Trần Phi Đ bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 03/2019/QĐ-TA ngày 07/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình (chấp hành xong ngày 22/10/2020).
- Về nhân thân: Ngày 04/3/2014 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 09 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/4/2021 đến nay và có mặt tại phiên tòa.
2.1 Người bào chữa cho bị cáo Trần Phi Đ: Ông Trần Văn M là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Vĩnh Long (có mặt)
Địa chỉ: Số 162A/10, đường Nguyễn Huệ, Phường 8, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
2.2 Người làm chứng:
- Ông Võ Văn C, sinh năm 1970 (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp MP5, xã TL, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long.
- Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1976 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp A, xã HL, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long.
- Anh Phạm Tấn M, sinh năm 1995 (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp TTB, xã TL, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 16 giờ 10 phút ngày 06/4/2021, Công an Phường B, thành phố VL, tỉnh Vĩnh Long đưa đối tượng Trần Phi Đ đến Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Long thuộc ấp MP5, xã TL, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long để làm thủ tục quản lý đối tượng, cắt cơn giải độc. Trong thời gian làm thủ tục tiếp nhận đối tượng, cán bộ Cơ sở cai nghiện phát hiện Trần Phi Đ có cầm trên tay 01 (một) bịch nylon trong suốt hàn kín, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy nên Cơ sở cai nghiện đã tiến hành niêm phong và báo Công an xã Tường Lộc.
Tại kết luận giám định số 188/KLGĐ-PC09 ngày 13/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong một bịch nylon được niêm phong trong phong bì gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,3124 gam, loại Methamphetamine.
Qua điều tra, bị cáo Trần Phi Đ thừa nhận đã được một người bạn tên V (không rõ họ tên, địa chỉ) cho Đ số ma túy trên tại thành phố Hồ Chí Minh để tàng trữ, sử dụng cho bản thân.
Xử lý vật chứng: Chuyển vật chứng sau đây đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình để tiếp tục quản lý gồm: 01 (một) phong bì niêm phong số 188 đề ngày 14/4/2021. Bên trong phong bì có chứa vỏ bao gói và mẫu tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định, có khối lượng: 0,2622 gam (kèm theo biên bản niêm phong giao nhận).
Tại Cáo trạng số: 40/CT-VKSTB ngày 12/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình đã truy tố bị cáo Trần Phi Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trần Phi Đ thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình truy tố bị cáo là đúng hành vi, không oan, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đối với hành vi của đối tượng tên V (không biết rõ họ tên, địa chỉ) đã cho Trần Phi Đ chất ma túy. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Bình chưa xác định được đối tượng, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Phi Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Sau khi phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng cho bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Phi Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trần Phi Đ mức án từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy vật chứng: 01 (Một) phong bì niêm phong mẫu vật hoàn trả số 188 đề ngày 14/4/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long có chữ ký của bên giao là giám định viên Nguyễn Trần Thanh Uyên, bên nhận là Phan Thành Trung và có dấu tròn màu đỏ có dòng chữ Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long. Bên trong phong bì này có chứa vỏ bao gói và mẫu tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định, có khối lượng: 0,2622 gam (kèm theo biên bản niêm phong giao nhận).
- Ông Trần Văn M bào chữa cho bị cáo Trần Phi Đ trình bày quan điểm bảo vệ: Thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản đã truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên, cần xem xét nhân thân của bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, đề nghị áp dụng mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo Đ thuộc đối tượng hộ cận nghèo nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản hỏi cung bị can, biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa thể hiện: Vào lúc 16 giờ 10 phút ngày 06/4/2021, tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Long thuộc ấp MP5, xã TL, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long, cán bộ Cơ sở cai nghiện đã phát hiện bị cáo Trần Phi Đ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, có khối lượng: 0,3124 gam, loại Methamphetamine. Bị cáo Trần Phi Đ tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân.
Hành vi của bị cáo Trần Phi Đ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật và có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo biết rõ việc tàng trữ chất ma túy là trái pháp luật, thấy được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng chất ma túy nhưng bị cáo cố tình thực hiện, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền sự đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy nhưng bị cáo vẫn tiếp tục tàng trữ ma túy để sử dụng. Vì vậy, cần xử lý bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời giúp bị cáo cai nghiện, trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội và ngăn chặn những trường hợp tương tự có thể xảy ra.
Xét hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo nhằm mục đích để sử dụng nên áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là đủ, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét lời bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo là có căn cứ chấp nhận một phần.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ: 01 (Một) phong bì niêm phong mẫu vật hoàn trả số 188 đề ngày 14/4/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long có chữ ký của bên giao là giám định viên Nguyễn Trần Thanh U, bên nhận là Phan Thành T1 và có dấu tròn màu đỏ có dòng chữ Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long. Bên trong phong bì này có chứa vỏ bao gói và mẫu tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định, có khối lượng: 0,2622 gam (kèm theo biên bản niêm phong giao nhận).
Hiện vật chứng đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình theo biên bản giao nhận vật chứng vụ án ngày 12/7/2021.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Phi Đ thuộc đối tượng cận nghèo nên được miễn tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
1.1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Phi Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1.2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Phi Đ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 28/4/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong mẫu vật hoàn trả số 188 đề ngày 14/4/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long có chữ ký của bên giao là giám định viên Nguyễn Trần Thanh U, bên nhận là Phan Thành T1 và có dấu tròn màu đỏ có dòng chữ Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long. Bên trong phong bì này có chứa vỏ bao gói và mẫu tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định, có khối lượng: 0,2622 gam (kèm theo biên bản niêm phong giao nhận).
Hiện vật chứng đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình theo biên bản giao nhận vật chứng vụ án ngày 12/7/2021.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Phi Đ.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND tỉnh Vĩnh Long; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long; - Phòng hồ sơ – Công an tỉnh Vĩnh Long - VKSND huyện Tam Bình; - Chi cục THADS huyện Tam Bình; - CQĐT Công an huyện Tam Bình; - Nhà tạm giữ Công an huyện Tam Bình; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - UBND xã SP, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thanh Thảo |