vanban.org

Bản án 45/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai Tuyên án 25/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 582 Bộ luật dân sự.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Hoàng Xuân Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, tổng c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Xuân Q - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 582 Bộ luật dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO THẮNG
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2021/HS-ST
Ngày 25-11-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Bích Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Huệ và bà Bàn Thị Hương Giang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Tiến Dũng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Đỗ Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 25/11/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2021/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2021/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Hoàng Xuân Q -Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 20/6/1994 tại huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Thôn V, xã X, huyện B, tỉnh L; Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Giới tính: Nam; Con ông: Hoàng Văn Nh, sinh năm 1963; Con bà Phạm Thị Ph, sinh năm 1962, đều trú tại thôn V, xã X, huyện B, tỉnh L. Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: Không; Tiền sự: 01 tiền sự. Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 24/QĐ-XPHC ngày 17/02/2019 của Công an huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xử phạt Hoàng Xuân Q bằng hình thức phạt tiền mức phạt là 2.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ, cất giấu trong người, đồ vật, phương tiện giao thông các loại dao, búa, các loại công cụ, phương tiện khác thường dùng trong lao động, sinh hoạt hàng ngày nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác”. Đến nay Hoàng Xuân Q chưa chấp hành xong quyết định này.

Về nhân thân:

+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2010/HSST ngày 27/8/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, xử phạt Hoàng Xuân Q 02 năm tù về tội Cướp tài sản. Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 24/2010/HSPT ngày 17/11/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai sửa bản án sơ thẩm số 112/2010/HSST ngày 27/8/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai về phần hình phạt đối với Hoàng Xuân Q là 08 tháng 25 ngày tù, Quý được trả tự do tại phiên tòa và không phải chịu án phí HSPT. Ngày 21/3/2011, Quý đã chấp hành xong tiền án phí và số tiền truy thu theo quyết định của bản án sơ thẩm.

+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2013/HSST ngày 30/9/2013 của Tòa án nhân dân huyện Bát Xát xử phạt Hoàng Xuân Q 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 05/6/2014, Quý chấp hành xong án phạt tù. Tính đến thời điểm phạm tội lần này, Hoàng Xuân Q đã được xóa 02 án tích nêu trên.

+ Tại quyết định xử lý vi phạm hành chính số 32/QĐXP ngày 05/3/2009 của Công an huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xử phạt Hoàng Xuân Q bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản.

Bị cáo Hoàng Xuân Q bị bắt tạm giam từ ngày 23/8/2021. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Thắng- Có mặt.

Bị hại: Chị Hoàng Thị Thêm, sinh năm: 1986. Địa chỉ: Thôn Vàng, xã Xuân Giao, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Tống Văn Hạnh - Sinh năm: 1973. Địa chỉ: Thôn Hòa Lạc, xã Thống Nhất, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người làm chứng: Bà Phạm Thị Phẩm - Sinh năm: 1962 - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ ngày 07/4/2021, Hoàng Xuân Q mượn chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision biển số 24B2-348.90 của chị gái ruột là chị Hoàng Thị Thêm ở thôn Vàng, xã Xuân Giao, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai, để ra quán điện tử chơi game. Khi đến quán điện tử ở khu vực thôn Giao Bình, xã Xuân Giao, huyện Bảo Thắng, Quý bật máy tính và chơi được một lúc thì không chơi nữa và lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus của mình ra kết nối mạng Wifi để vào ứng dụng trò chơi đánh bài đổi thưởng chơi. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày Quý chơi đánh bài thua hết số tiền 1.000.000 đồng. Do không còn tiền để chơi tiếp nên Quý nảy sinh ý định mang chiếc xe máy của chị Thêm đi gửi đảm bảo để vay tiền chơi tiếp. Quý điều khiển xe máy của chị Thêm đến nhà anh Tống Văn Hạnh ở thôn Hòa Lạc, xã Thống Nhất, thành phố Lào Cai đặt vấn đề vay anh Hạnh số tiền 5.000.000 đồng và gửi lại chiếc xe máy biển số 24B2-348.90 trên để đảm bảo. Sau khi vay được tiền, Quý gọi điện cho một người phụ nữ tên Hiền (không rõ lai lịch, địa chỉ) để mua thẻ nạp VTC game. Sau đó có một nam thanh niên mang thẻ nạp đến bán cho Quý với giá tiền là 5.000.000 đồng. Quý ngồi ở quán nước của nhà anh Hạnh kết nối Wifi vào ứng dụng chơi đánh bài trên điện thoại, rồi lần lượt nạp các thẻ nạp đã mua để chơi đến khoảng 0h sáng 08/4/2021 thì thua hết số tiền đã nạp. Sau đó, Quý đã vay tiếp của anh Hạnh thêm 03 lần với tổng số tiền 15.000.000 đồng để tiếp tục mua thẻ nạp chơi game nhưng đều thua hết. Do không có tiền để chuộc xe ra nên Quý đã nhắn tin báo cho chị Thêm là đã cắm chiếc xe máy. Sau đó, do bực tức việc thua game nên Quý đã ném hỏng điện thoại của mình, tháo lấy sim và vứt điện thoại xuống sông Hồng rồi đi nhờ xe người quen để về nhà. Khi về nhà, chị Thêm nhiều lần yêu cầu Quý trả lại chiếc xe nhưng Quý không có khả năng trả tiền cho anh Hạnh để lấy xe về. Ngày 18/4/2021, chị Hoàng Thị Thêm đã làm đơn tố giác hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của Hoàng Xuân Q đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo Thắng đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 23/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bảo Thắng kết luận: Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision BKS 24B2-348.90 tại thời điểm định giá tháng 4/2021 có trị giá là 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng.

Tại bản cáo trạng số 37/CT-VKSBT ngày 25/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng truy tố Hoàng Xuân Q về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Điểm b Khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Xuân Q phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản":

Áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 175; Điểm h, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Xuân Q từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/8/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 582, Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo hoàn trả cho anh Tống văn Hạnh số tiền 20.000.000 đồng. Tuyên án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Hoàng Xuân Q đã thừa nhận hành vi mượn xe máy nhãn hiệu Honda Vision BKS 24B2-348.90 của chị Hoàng Thị Thêm, mục đích ban đầu là để ra quán điện tử chơi game nhưng sau đó vì thua game nên đã nẩy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe đem đặt làm tin để vay tổng số tiền 20.000.000 đồng của anh Tống Văn Hạnh và đã sử dụng số tiền này mua thẻ nạp chơi trò chơi đánh bài qua ứng dụng điện thoại dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Tài sản mà Hoàng Xuân Q chiếm đoạt của chị Hoàng Thị Thêm có giá trị 25.000.000 đồng.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, kết luận định giá, lời khai của bị hại cũng như các lời khai khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Hoàng Xuân Q đã cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự.

. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Hoàng Xuân Q là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khỏe, hiểu biết pháp luật nhất định. Mặc dù biết rõ việc chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng do muốn có tiền để chơi game nên bị cáo đã nẩy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe có giá trị là 25.000.000 đồng đem đặt làm tin để vay tiền chơi game. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Vì vậy cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh trước pháp luật, có một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Hoàng Xuân Q không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự được áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Tuy nhiên bị cáo là người có nhân thân xấu, có 01 tiền sự về hành vi vi phạm quy định về trật tự công cộng và 02 lần bị kết án về các hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu, mặc dù đã được xóa án tích nhưng bị cáo đã không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà đã cố ý phạm tội. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, căn cứ tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng hình phạt tù, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng giá trị, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo của địa phương, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo Thắng đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe máy trên cho chủ sở hữu tài sản hợp pháp là chị Hoàng Thị Thêm. Sau khi nhận lại tài sản, bị hại chị Hoàng Thị Thêm không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì nên không xem xét giải quyết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Tống Văn Hạnh yêu cầu bị cáo phải hoàn trả cho anh số tiền 20.000.000 đồng mà anh Hạnh đã cho bị cáo vay. Xét yêu cầu của anh Hạnh là có căn cứ nên cần buộc bị cáo phải hoàn trả cho anh Hạnh số tiền là 20.000.000 đồng.

Về các vấn đề khác:

Đối với anh Tống Văn Hạnh đã cho bị cáo vay số tiền 20.000.000 đồng và nhận giữ lại chiếc xe máy BKS 24B2-348.90 để đảm bảo, quá trình điều tra xác định anh Hạnh không biết nguồn gốc chiếc xe máy là do bị cáo chiếm đoạt của người khác mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh Hạnh.

Ngoài ra, bị cáo khai đã sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus để chơi trò chơi đánh bài bằng ứng dụng điện thoại di động thua hết tổng số tiền 21.000.000 đồng. Do bực tức nên bị cáo đã đập vỡ chiếc điện thoại và ném xuống sông Hồng nên Cơ quan điều tra không truy tìm được. Ngoài lời khai của bị cáo Cơ quan điều tra không thu thập được chứng cứ, tài liệu nào khác chứng minh nên không có đủ căn cứ để xử lý bị cáo về hành vi đánh bạc.

Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Xuân Q phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b Khoản 1 Điều 175; điểm h, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Hoàng Xuân Q phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, xử phạt bị cáo Hoàng Xuân Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 23/8/2021.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 582 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo hoàn trả cho anh Tống Văn Hạnh số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Hoàng Xuân Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng là 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo và vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án theo quy định.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án;

Cỡ chữ