vanban.org

Bản án 45/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre Tuyên án 13/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo T phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo T 01 (Một) năm tù. Trừ vào thời gian 03 (Ba) ngày bị tạm giữ trước đó, bị cáo phải chấp hành hình phạt còn lại là 11 (Mười một) tháng 27 (Hai mươi bảy) ngày tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cao chấp hành hình phạt tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "T bị truy tố về tội" Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo T phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA TRI
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45 /2021/HS-ST
Ngày: 13/12/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chu

Ông Nguyễn Văn Ton

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Hoàng Long - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Ông Đặng Truyền Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2021, Tòa án nhân dân huyện Ba Tri tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2021/TLST-HS ngày 22/10/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2021/QĐXXST-HS ngày 01/12/2021 đối với bị cáo:

T, sinh ngày 06/4/1996; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: Số 107/TB, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Thợ điện; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông L và bà Ph; Vợ con: chưa có; Có 02 chị, lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1984; Tiền án, tiền sự: Không. Ngày 15/8/2021, bị Đồn Biên phòng Hàm Luông xử phạt 2.750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị tạm giữ từ ngày 14/8/2021, đến ngày 17/8/2021 thì được hủy bỏ biện pháp tạm giữ và bị cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến:

1. Ông V, sinh năm 1965;

Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt).

2. Ông Tr, sinh năm 1959;

Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

T là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Vào khoảng 09 giờ ngày 14/8/2021,T mượn xe môtô biển số 71F7-7206 của ông L (cha ruột) chạy đến khu vực cầu Giồng Sao thuộc ấp T xã T, huyện B gặp mua của đôi nam nữ không rõ nhân thân lai lịch 300.000 đồng ma túy về để sử dụng. Sau khi mua ma túy,T chạy xe môtô về đến khu vực cầu Bến Lăng thuộc ấp Tân Hòa, xã Tân Thủy, huyện Ba Tri thì bị Tổ công tác của Đồn Biên phòng Hàm Luông và Công an xã Tân Thủy đi tuần tra phát hiện trên tay T cất giấu chất ma túy nên lập biên bản bắt quả tang.

Vật chứng và tài sản thu giữ, gồm:

- Một đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín 02 đầu dài 5,3cm, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy được niêm phong trong phong bì ký hiệu T01 (chưa xử lý).

- Một vỏ giấy bạc đã bị rách thành nhiều mảnh nhỏ được niêm phong trong phong bì ký hiệu T02 (chưa xử lý).

- Một xe môtô biển số 71F7-7206 hiệu Prealmii màu nâu; Cơ quan điều tra đã xử lý giao trả cho ông L.

- Một điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12 màn hình bị vỡ, số Imei 1 là 351162963000818, số Imei 2 là 351533633000810, bên trong có gắn sim số 0348816024 do bà Ph (mẹ T) giao nộp, (chưa xử lý).

Tại Bản kết luận giám định số 116/2021/GĐMT ngày 15/8/2021, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre kết luận tinh thể màu trắng đựng trong 01 đoạn ống nhựa được niêm phong trong phong bì ký hiệu T01 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,2295 gam. Hoàn lại mẫu vật sau giám định đã được niêm phong có khối lượng 0,1891 gam.

Tại Bản Cáo trạng số: 43/CT-VKSBT ngày 21/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri truy tố bị cáo T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

* Về trách nhiệm hình sự đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự phạt bị cáo từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.

* Về xử lý vật chứng đề nghị HĐXX: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 0,1891 gam Methamphetamine còn lại sau giám định vì đây là vật cấm tàng trữ lưu hành; 01 vỏ giấy bạc đã bị rách thành nhiều mảnh nhỏ không còn giá trị sử dụng;

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12 màn hình bị vỡ, số Imei 1 là 351162963000818, số Imei 2 là 351533633000810, bên trong có gắn sim số 0348816024.

- Ghi nhận Cơ quan điều tra đã xử lý giao trả cho ông L 01 xe môtô biển số 71F7-7206 hiệu Prealmii màu nâu;

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đã thực hiện như đã nêu trên. Bị cáo không nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Tại phiên tòa, những người chứng kiến vắng mặt không lý do, tuy nhiên người chứng kiến đã có lời khai thể hiện rõ trong quá trình điều tra vụ án. Tại phiên tòa, bị cáo và những người tiến hành tố tụng không có ý kiến gì về việc vắng mặt của người chứng kiến. Xét việc vắng mặt người chứng kiến không ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo. Vì vậy, HĐXX xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Tri, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, lời khai nhận của bị cáo T phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng những tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Đã đủ cơ sở xác định: Do nghiện ma túy, T đã có hành vi cất giấu trái phép trong người 0,2295 gam Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang vào lúc 11 giờ 05 phút ngày 14/8/2021 tại cầu Bến Lăng thuộc ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri đã truy tố bị cáo T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Khi thực hiện hành vi tàng trữ trái pháp chất ma túy, bị cáo là người đã trưởng thành và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp và cố ý thực hiện để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện của mình. Vì vậy, bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra. HĐXX xét thấy cần xử lý bị cáo bằng hình phạt tù giam để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo nhằm giúp bị cáo từ bỏ chất ma túy để trở thành người tốt, có ích cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, phòng ngừa chung trước thực trạng tệ nạn ma túy đang ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp trên địa bàn huyện nhà.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, đề nghị về áp dụng tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát có cơ sở nên được HĐXX chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với số ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định 0,1891 gam, đây là ma túy bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ và là vật cấm nên sẽ bị tịch thu tiêu hủy.

- Đối với một vỏ giấy bạc đã bị rách thành nhiều mảnh nhỏ không còn giá trị sử dụng nên sẽ bị tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 xe môtô biển số 71F7-7206 hiệu Prealmii màu nâu khi bị cáo lấy xe đi mua ma túy ông Lưởng không biết nên Cơ quan điều tra đã xử lý giao trả cho ông L là phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX ghi nhận.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12 màn hình bị vỡ, số Imei 1 là 351162963000818, số Imei 2 là 351533633000810, bên trong có gắn sim số 0348816024, đây là điện thoại của bị cáo dùng vào việc liên lạc mua ma túy sử dụng nên sẽ bị tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo T phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo T 01 (Một) năm tù. Trừ vào thời gian 03 (Ba) ngày bị tạm giữ trước đó, bị cáo phải chấp hành hình phạt còn lại là 11 (Mười một) tháng 27 (Hai mươi bảy) ngày tù.

Thời hạn tù được tính từ ngày bị cao chấp hành hình phạt tù.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Ghi nhận Cơ quan điều tra Công an huyện Ba Tri đã xử lý giao trả cho ông L 01 xe môtô biển số 71F7-7206 hiệu Prealmii màu nâu;

- Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định 0,1891 gam và vỏ bao gói được niêm phong trong phong bì số 116/2021; 01 vỏ giấy bạc đã bị rách thành nhiều mảnh nhỏ.

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12 màn hình bị vỡ, số Imei 1 là 351162963000818, số Imei 2 là 351533633000810, bên trong có gắn sim số 0348816024.

Theo phiếu nhập kho số NKTV35 ngày 26/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14;

Buộc bị cáo T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. * Nơi nhận:

Cỡ chữ