- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Sĩ N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Bùi Sĩ N 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 03 tháng 7 năm 2021.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:45/2021/HS-ST Ngày 29-11-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Định.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Huy.
Ông Nguyễn Văn Thắng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Hải Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Lão, Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Trần Công Tài - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 40/2021/HSST ngày 29 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 218/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Bùi Sĩ N, sinh ngày 06 tháng 5 năm 1984 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn B, xã A, huyện A, Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông: Bùi Sỹ N’ và bà: Nguyễn Thị H; bị cáo chưa có vợ con; tiền sự: Không; nhân thân, tiền án: Bị cáo có 01 tiền án đã được xóa là bản án số 258/2007/HSST của Tòa án nhân dân huyện Thuận An (nay là thành phố Thuận An) tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản"; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03 tháng 7 năm 2021 đến ngày 08 tháng 7 năm 2021 chuyển tạm giam. Có mặt.
- Người làm chứng:
Anh Dương Đức T. Vắng mặt.
Anh Đỗ Đức A. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Sĩ N là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2001. Chiều ngày 02/7/2021, N đi xe buýt một mình ra đường tàu Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, Hải Phòng mua của một người đàn ông không quen biết 02 triệu đồng ma túy, sau đó mang về nhà chia nhỏ ra để sử dụng dần. Hồi 07 giờ 15 phút ngày 03/7/2021, tại khu vực trước cửa nhà số 156 đường Nguyễn Văn Trỗi, thị trấn An Lão, tổ công tác của Công an huyện An Lão đã kiểm tra và thu giữ trong túi quần soóc bên phải phía trước của Bùi Sĩ N 01 lọ nhựa hình trụ màu trắng (kích thước 7,5 x 3,5cm) nắp xanh, bên trong đựng 30 gói giấy nhỏ (kích thước 1,8 x 1,8 cm) nghi là ma túy nên đã lập biên bản, đưa Nam về trụ sở Công an huyện giải quyết. Ngoài ra, cơ quan Công an không thu giữ tài liệu, đồ vật nào khác
Tại bản giám định số 437/KLGĐ-MT ngày 06/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy,khối lượng 1,45 gam, là loại Heroin.
Tại bản cáo trạng số 41/CT-VKS ngày 28 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Bùi Sĩ N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Sĩ N từ 36 đến 42 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; đề nghị các vấn đề xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Lão, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng với quy định của pháp luật.
Về tội danh đối với hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với bản kết luận giám định, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào hồi 07 giờ 15 phút ngày 03 tháng 7 năm 2021, tại khu vực trước cửa nhà số 156 đường Nguyễn Văn Trỗi, thị trấn An Lão, Bùi Sĩ N đã có hành vi cất giữ trái phép 30 gói nhỏ chất bột màu trắng qua giám định kết luận là chất ma túy heroin, có trọng lượng 1,45 gam, với mục đích để sử dụng cho bản thân. Do vậy Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận Bùi Sĩ N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của nhà nước về các chất gây nghiện, các chất hướng thần, đồng thời còn gây mất trật tự trị an xã hội.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ là "Người phạm tội thành khẩn khai báo" quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy vậy, lý lịch của bị cáo cho thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy và đã từng bị kết án về hành vi phạm tội. Đây là các yếu tố quan trọng để Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.
Về hình phạt chính và hình phạt bổ sung:
Căn cứ tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ như đã phân tích Hội đồng xét xử xét thấy mức án Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão đề nghị xử phạt đối với bị cáo là phù hợp, cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm, bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Ngoài hình phạt chính thì bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và một số vấn đề khác:
Lượng ma túy còn lại sau giám định là 1,32 gam và vỏ bao bì của mẫu vật được niêm phong trong 01 phong bì thư có số niêm phong 437MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo vào chiều ngày 02/7/2021 ở đường tàu Trần Nguyên Hãn, do không xác định được lai lịch địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh, làm rõ xử lý sau, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Xử phạt bị cáo Bùi Sĩ N 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 03 tháng 7 năm 2021.
2. Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu huỷ lượng ma túy còn lại sau giám định là 1,32 gam và vỏ bao bì của mẫu vật được niêm phong trong 01 phong bì thư có số niêm phong 437MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29 tháng 10 năm 2021 giữa Công an huyện An Lão và Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão).
3. Về án phí: bị cáo Bùi Sĩ N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Sĩ N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP. Hải Phòng; - VKSND TP. Hải Phòng; - PV06, PC10; - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng; - Trại tạm giam CATP; - Công an huyện An Lão; Cơ quan THA hình sự CA huyện An Lão; - Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão; - Chi cục THADS huyện An Lão; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA V Văn Định |