- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luậ…"
- Tòa quyết gì? Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ", thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo T đi thi hành án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45 /2021/HS-PT Ngày 29 - 6 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Xuân Bằng;
Các thẩm phán: Bà Đỗ Thị Hà;
Bà Nguyễn Thị Phương Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Trung Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 66/2021/HS-PT, ngày 22 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo Lê Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 53/2021/HS-ST, ngày 20 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Thái Bình.
- Bị cáo kháng cáo: Lê Văn T, sinh ngày 11-11-1990; tại: xã Đ, huyện X, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện X, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Công nhân; con ông Lê Văn T1 (đã chết) và bà Bùi Thị B1; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị N; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Bị hại: Anh Vũ Mạnh H, sinh năm 1990 (Đã chết) Trú quán: Khu K, thị trấn X1, huyện X, tỉnh Thái Bình.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Ông Vũ Văn H1, sinh năm 1962 (bố đẻ anh H);
- Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1967 (mẹ đẻ anh H); Cùng nơi cư trú: Khu K, thị trấn X1, huyện X, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo cá c tà i liệ u có trong hồ sơ vụ á n và diễ n biế n tạ i phiên tò a , nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 23-7-2020, tại làn đường tránh phía Nam trên chiều đường hướng từ đường L đi đến đường Q thuộc địa phận thôn V, xã C, thành phố B, tỉnh Thái Bình, bị cáo Lê Văn T không có giấy phép lái xe, điều khiển xe mô tô biển số 17B7-233.31 trong tình trạng có sử dụng rượu, bia đi ngược chiều đường quy định, khiến mặt lăn, má lốp bên trái bánh trước xe mô tô biển số 17B7-233.31 va chạm với mặt lăn má lốp bên trái bánh trước xe mô tô biển số 17B7-438.53 do anh Vũ Mạnh H, sinh năm 1990, cư trú tại khu K, thị trấn X, huyện X, tỉnh Thái Bình điều khiển đi đúng chiều đường quy định. Hậu quả anh H tử vong tại chỗ, Lê Văn T bị thương được đưa đi bệnh viện cấp cứu, hai xe mô tô bị hư hỏng.
Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: Đường tránh phía Nam chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, đường thẳng, phẳng, trải nhựa áp phan rộng 23 mét, giữa đường có dải phân cách cố định bằng bê tông phân hai chiều ngược xuôi riêng biệt. Bên mỗi chiều đường có vạch sơn màu trắng kẻ dọc ngắt đoạn phân làn phương tiện và vạch sơn trắng liền kẻ dọc phân làn phương tiện. Tiếp giáp mép đường là lề đường bề mặt là đất và cỏ. Phía Đông Nam là nghĩa trang nhân dân thôn V. Lúc xảy ra tai nạn người và phương tiện tham gia giao thông bình thường, không có phương tiện đỗ đậu gây cản trở giao thông hay khuất tầm nhìn.
Hiện trường còn lại những dấu vết và phương tiện sau: Điểm chuẩn: Cột đèn cao áp không số cắm trên dải phân cách cố định. Mép đường làm chuẩn: Mép đường phía Đông Nam của đường tránh phía Nam.
Vết cày (1) dài ngắt đoạn lộ rõ trên mặt đường chạy theo hướng Đông Bắc Tây Nam có số đo 3,95 mét. Từ đầu vết cày này đo thẳng vuông góc vào mép - đường làm chuẩn có số đo 6,75 mét, cuối vết cày này nằm tiếp giáp với phần nhô ra bên phải xe mô tô biển số 17B7-233.31. Xe mô tô biển số 17B7-233.31, nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS RC, màu sơn đen - đỏ để nghiêng phải trên hiện trường, đầu xe chếch hướng Tây Nam. Từ trục bánh trước xe này đo thẳng vuông góc vào mép đường làm chuẩn có số đo 8,20 mét, từ trục bánh sau xe này đo thẳng vuông góc vào mép đường làm chuẩn có số đo 8,80 mét. Vết máu màu đỏ tươi lộ rõ trên hiện trường, không rõ hình có số đo (0,20 x 0,20) mét, từ tâm vết máu này đo thẳng vuông góc vào mép đường làm chuẩn có số đo 9,70 mét, đo thẳng đến trục bánh sau xe mô tô biển số 17B7-233.31 là 1,45 mét.
Vết cày (2) dài ngắt đoạn lộ rõ trên hiện trường chạy theo hướng từ Đông Bắc đến Tây Nam có số đo (23,60 x 0,40) mét. Từ đầu vết cày này đo thẳng vuông góc vào mép đường làm chuẩn có số đo 6,05 mét, đo thẳng đến đầu vết cày (1) có số đo 2,35 mét. Cuối vết cày này nằm tiếp giáp với những phần nhô ra bên phải xe mô tô biển số 17B7-438.53. Xe mô tô biển số 17B7-438.53, nhãn hiệu HONDA AIR BLADE, màu sơn đen - vàng đổ nghiêng phải trên hiện trường, đầu xe chếch hướng Đông Nam, từ trục bánh trước xe này đo thẳng vuông góc vào mép đường làm chuẩn có số đo 2,40 mét, từ trục bánh sau xe này đo thẳng vuông góc vào mép đường làm chuẩn có số đo 3,60 mét.
Nạn nhân là nam giới tư thế nằm ngửa, tay phải duỗi theo thân người, tay trái đặt phía sau hông bên trái, hai chân duỗi thẳng theo thân người, bên trong mặc áo phông màu xanh, bên ngoài mặc áo sơ mi kẻ ca rô màu trắng đen (dài tay), nạn nhân mặc quần bò màu xanh, thắt lưng giả da màu đen, đầu nạn nhân chếch hướng Đông Nam, từ vị trí đầu nạn nhân đo thẳng vuông góc vào mép đường làm chuẩn có số đo 1,60 mét, đo thẳng đến đầu vết cày (2) có số đo 15,65 mét, đo thẳng đến trục bánh trước xe mô tô biển số 17B7-438.53 là 8,30 mét.
Mảnh nhựa vỡ kích thước khác nhau nằm rải rác trên mặt đường tiếp giáp xe mô tô biển số 17B7-233.31, vết cày (1), vết cày (2). Điểm chuẩn hiện trường được đo từ trục bánh sau xe mô tô biển số 17B7-438.53 thẳng đến chân cột đèn cao áp không số cắm trên dải phân cách cố định có số đo 8,40 mét.
Ngoài dấu vết, phương tiện trên, kiểm tra hiện trường chưa phát hiện thêm dấu vết, phương tiện nào khác liên quan đến vụ tai nạn giao thông.
Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong máu của bị cáo Lê Văn T là:“258.9 mg/100 ml”.
Bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 171/PY-PC09 ngày 30-7-2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Anh Vũ Mạnh H bị đa chấn thương vùng đầu, mặt và toàn thân do tai nạn giao thông làm vỡ xương sọ vùng thái dương phải, chảy máu não, chết do chấn thương sọ não”.
Bản án hình sự sơ thẩm số: 53/2021/HS-ST, ngày 20-4-2021 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Thái Bình quyết định:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
2. Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 48, Điều 50, Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là Bộ luật Hình sự); Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 591, Điều 601 của Bộ luật dân sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án.
- Xử phạt bị cáo Lê Văn T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 22-4-2021, bị cáo T kháng cáo xin được hưởng án treo, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo T đã gây ra, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, cũng như nhân thân của bị cáo T, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T và giữ nguyên bản á n sơ thẩ m.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 23-7-2020, tại làn đường tránh phía Nam trên chiều đường hướng từ đường L đi đến đường Q thuộc địa phận thôn V, xã C, thành phố B, tỉnh Thái Bình, bị cáo Lê Văn T không có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe mô tô biển số 17B7-233.31 lái xe trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu có nồng độ cồn là 258.9 mg/100 ml vượt quá mức quy định và điều khiển xe mô tô đi ngược chiều đường theo quy định đã gây ra tai nạn giao thông, khiến mặt lăn, má lốp bên trái bánh trước xe mô tô biển số 17B7-233.31 va chạm với mặt lăn má lốp bên trái bánh trước xe mô tô biển số 17B7-438.53 do anh Vũ Mạnh H, sinh năm 1990, cư trú tại khu K, thị trấn X1, huyện X, tỉnh Thái Bình điều khiển đi đúng chiều đường quy định. Hậu quả bị hại anh Vũ Mạnh H tử vong tại chỗ, bị cáo Lê Văn T bị thương được đưa đi bệnh viện cấp cứu. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Văn T về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là phù hợp.
Hành vi phạm tội của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ. Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, đã xem xét về nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo T được hưởng và quyết định xử phạt bị cáo T 02 (hai) năm 03 (tháng) tù là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn
T. Do đó, cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T và giữ nguyên bả n á n sơ thẩ m.
Về án phí: Áp dụng Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số : 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội , do bản án hình sự sơ thẩm được giữ nguyên , nên bị cá o Lê Văn T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn T, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 53/2021/HSST ngày 20 tháng 4 năm 2021, của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Thái Bình.
2. Áp dụng các điểm a, b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 và Điều 54 của Bộ luật hình sự; Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ", thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo T đi thi hành án.
4. Về án phí: Bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Bình; - TA, VKS, CA, THADS tp.B; - Bị cáo kháng cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. - Lưu HCTP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Xuân Bằng |