- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Quốc Tđược ly hôn với chị Hà Thị Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2021/HNGĐ-ST Ngày: 04 – 5 – 2021 “ V/v Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Ẩn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Trần Thị Thu Hà.
2/ Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Tuyết Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
- Đ i di n i n ki m sát nh n d n huy n ng iêm, t nh nh ong: không tham gia phiên tòa.
Ngày 04 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 529/2020/TLST - HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2020 về “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2021/QĐXX - ST ngày 12 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Quốc T– sinh năm: 1988 (Vắng, có đơn xin vắng mặt ngày 19/3/2021) .
- Bị đơn: Chị Hà Thị Đ – sinh năm: 1986 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: ấp Rạch Vọp, xã Qưới Thiện, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn anh Nguyễn Quốc Ttrình bày:
- V quan h hôn nhân: Anh và chị Đ do quen biết tự nguyện rồi tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Quới Thiện, huyện V, tỉnh Vĩnh Long. Sau ngày cưới anh và chị Đ sống tự lập thuê nhà trọ tại Tp. HCM cùng sinh sống. Đến năm 2018 thì anh và chị Đ về sinh sống chung với gia đình cha mẹ ruột anh tại ấp Rạch Vọp, xã Quới Thiện, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
Thời gian đầu chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì tình cảm vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng thường hay cự cãi, tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Anh và chị Đ đã ly thân từ năm 2019 cho đến nay.
Nay anh cảm thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Đ.
- V con chung: Có 01 (một) người con chung tên: Hà Trọng Khang – sinh ngày 28/10/2014. Hiện đang sống với anh, sau khi ly hôn anh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị Đ phải cấp dưỡng nuôi con.
- V tài s n chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- V n chung ph i thu, ph i tr : Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn chị Hà Thị Đ vắng mặt tại phiên Tòa, không có lý do không vì sự kiện bất khả kháng, không cung cấp bảng khai ý kiến về các vấn đề của nguyên đơn yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về trình tự, thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện V thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự. Quá trình thụ lý vụ án, các tài liệu chứng cứ do đương sự tự giao nộp, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ, các bên đương sự là người đã thành niên, không bị nhược điểm về thể chất tâm thần. Căn cứ vào khoản 2, Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự; vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phải tham gia phiên tòa.
Xét thấy, nguyên đơn anh Nguyễn Quốc Tcó đơn xin xét xử vắng mặt ngày 19/3/2021 là phù hợp với quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Xét việc bị đơn chị Hà Thị Đ được triệu tập hợp lệ tham dự phiên hòa giải, thông báo về việc kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và ngày giờ xét xử đến lần thứ hai, nhưng bị đơn cố tình vắng mặt không có lý do. Xét thấy, có thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn; Hội đồng xét xử, quyết định xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét yêu cầu của nguyên đơn: Hội đồng xét thấy, giữa anh Nguyễn Quốc Tvà chị Hà Thị Đ có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuy nhiên, trong quá trình chung sống giữa anh Tvà chị Đ có nhiều mâu thuẫn như: Vợ chồng thường hay cự cãi vì bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Anh và chị Đ đã ly thân với nhau từ năm 2019 đến nay. Từ đó làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình. Tòa án đã triệu tập chị Đ nhiều lần, để hòa giải nhằm giúp hai bên có thời gian, có cơ hội hàn gắn tình cảm, nhưng chị Đ cố tình tránh né không đến Tòa án.
Từ đó, cho thấy chị Đ không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử, xét thấy hôn nhân giữa anh Tvà chị Đ đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; nên anh Tyêu cầu xin ly hôn với chị Đ là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Anh Txác định anh và chị Đ có con chung tên Hà Trọng Khang – sinh ngày 28/10/2014. Hiện đang sống với anh, sau khi ly hôn anh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị Đ phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử nhận thấy cháu Khang đã sống với anh Ttừ nhỏ cho đến lớn, cuộc sống ổn định, cháu Khang phát triển bình thường nên việc giao cháu Khang cho anh Ttiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về tài sản chung: Anh Tkhông yêu cầu giải quyết. Bị đơn chị Đ không có ý kiến phản bác nên Hội đồng đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Anh Tkhông yêu cầu giải quyết. Bị đơn anh Linh không có ý kiến phản bác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Dành riêng cho anh Tvà chị Đ một vụ kiện khác về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng sau ly hôn, nếu chị Gấm và anh Linh không tự thỏa thuận được và có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Anh Tphải chịu số tiền án phí là: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí sơ thẩm về việc ly hôn; Được khấu trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0008740, ngày 21/12/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện V, nên anh Tkhông phải nộp thêm.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
ì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b, khoản 2 Điều 227; 228; 238 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
Điều 9; Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử;
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Quốc Tđược ly hôn với chị Hà Thị Đ.
2. Về con chung: Giao cháu Hà Trọng Khang, sinh ngày 28/10/2014 cho anh Nguyễn Quốc Tnuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị Hà Thị Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về tài sản chung: Anh Nguyễn Quốc Tkhông yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về nợ chung phải thu, phải trả: Anh Nguyễn Quốc Tkhông yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Dành riêng cho anh Nguyễn Quốc Tvà chị Hà Thị Đ một vụ kiện khác về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng sau ly hôn, nếu anh Nguyễn Quốc Tvà chị Hà Thị Đ không tự thỏa thuận được và có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Quốc Tphải nộp số tiền là: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí sơ thẩm về ly hôn; Được khấu trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số N00008740, ngày 21/12/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện V, nên anh Nguyễn Quốc Tkhông phải nộp thêm.
Chị Hà Thị Đ không phải nộp án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; -VKSND huyện V; -Chi cục THADS huyện V; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. H CHAÙNH | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Ẩn |