vanban.org

Bản án 45/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 04/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lương Công M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Lương Công M 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày 27 tháng 11 năm 2019. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong phong bì niêm phong số 1054/GĐKTHS. Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động Iphone màu trắng bị vỡ màn hình và số tiền 50.000 đồng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Công M - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lương Công M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2020/HSST
Ngày: 04-3-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nguyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đoàn Hồng Hải.

Bà Trịnh Thị Lan.

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định. Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2020/TLST-HS ngày 14-02-2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2019/QĐ-HSST ngày 21-02-2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lương Công M, sinh năm 1980 tại tỉnh Nam Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số nhà 172 H, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Công K và bà Trần Thị N; có vợ Vũ Thị Thu T (Đã ly hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 08-4-2009 Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 12-07-2016 Công an thành phố N xử phạt vi phạm hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi “Gây mất trật tự”. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27-11-2019 sau đó chuyển tạm giam đến nay tại nhà tạm giữ Công an thành phố N; bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người làm chứng: Anh Đặng Tuấn Đức và ông Vũ Ngọc Châu (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 05 phút ngày 27-11-2019, Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực đầu ngõ 159 đường M, phường M, thành phố N phát hiện Lương Công M điều khiển xe máy biển kiểm soát B1-59902 có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện bên trong túi áo ngực bên trái M đang mặc 01 túi ni lông màu trắng, kích thước khoảng 3 x 5 cm, Tổ công tác đã thu giữ, mở kiểm tra trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (M khai đó là gói ma túy đá). Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng mời người làm chứng và đưa M về trụ sở Công lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật. Ngoài ra còn tạm giữ của M chiếc xe máy biển kiểm soát B1-59902, 01 chiếc điện thoại di động Iphone màu trắng (Đều đã cũ) và số tiền 50.000 đồng.

Bản kết luận giám định số 1054/GĐKTHS ngày 29-11-2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 túi ni lông màu trắng, kích thước 3 x 5 cm thu giữ của Lương Công M được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại ma túy Methamphetamine khối lượng mẫu: 0,300 gam.

Tại Cơ quan điều tra: Lương Công M đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng như sau: Khoảng 06 giờ ngày

27-11-2019 M điều khiển xe máy biển kiểm soát B1-59902 từ nhà đi đến khu vực chợ V, thành phố N gặp và mua của một nam thanh niên tên Hưng (Không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể) 01 gói ma túy đá được gói trong túi ni lông màu trắng kích thước khoảng 3 x 5 cm với số tiền 300.000 đồng. M cất gói ma túy đá vừa mua trong túi áo ngực bên trái đang mặc rồi điều khiển xe đi về, trên đường về M gặp và đi uống nước cùng với bạn của M. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày M điều khiển xe máy đi tìm nơi sử dụng, khi đi đến đầu ngõ 159 đường M, phường M, thành phố N thì bị kiểm tra phát hiện bắt giữ.

Bản Cáo trạng số 40/CT-VKSTPNĐ ngày 14-02-2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Lương Công M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Lương Công M xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị Cơ quan tiến hành tố tụng ép cung, bức cung hay nhục hình. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã nêu là đúng và khai nhận biết rõ hành vi cất giữ trái phép ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do nghiện ma túy nên đã tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng cho bản thân. Bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới và ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lương Công M theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lương Công M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Phạt bị cáo Lương Công M từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý đã thu giữ của bị cáo. Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động Iphone màu trắng và số tiền 50.000 đồng nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Lời khai nhận tội của bị cáo Lương Công M có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ vật chứng; bản kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; lời khai của những người làm chứng nên đã có đủ cơ sở kết luận khoảng 12 giờ 05 ngày 27-11-2019, tại khu vực đầu ngõ 159 đường M, phường M, thành phố N bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,300 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn thành phố N, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Việc truy tố và đưa ra xét xử bị cáo theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

Các tình tiết Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi Quyết định hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lương Công M không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng là người có nhân thân xấu.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên đối với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”. Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 01 gói ma túy trong phong bì niêm phong số 1054/GĐKTHS là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy. 01 chiếc điện thoại di động Iphone màu trắng và số tiền 50.000 đồng là tài sản riêng của bị cáo không phải là công cụ, phương tiện phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát B1-59902 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Trần Đức T, sinh năm 1993, trú tại tổ 81, phường T, thành phố N là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho M Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đang tiến hành xác M nên tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Tuyên bố bị cáo Lương Công M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Xử phạt bị cáo Lương Công M 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày 27 tháng 11 năm 2019.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong phong bì niêm phong số 1054/GĐKTHS. Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động Iphone màu trắng bị vỡ màn hình và số tiền 50.000 đồng nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 06 tháng 02 năm 2020 giữa Công an thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N).

3. Án phí: Bị cáo Lương Công M phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Lương Công M được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ