- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Trung - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (điều 145 Luật sửa…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 145 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƢỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2020/HS-ST Ngày: 08-5-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƢỚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Phú Vinh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Sĩ Trinh - Giáo viên Trường trung học cơ sở TP, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước
Bà Trần Thị Hải Thƣơng - Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ phường TP, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước
-Thư ký phiên tòa: Ông Đào Hùng Thái - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Ông Nông Quang Chung - Kiểm sát viên
Ngày 08 tháng 5 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2020/TLST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2020/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn A (tên gọi khác: không), sinh năm 1998 tại An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú ấp MH, xã MP, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang; chổ ở hiện nay ấp 02, xã TT, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trần Văn B, sinh năm 1973 và bà Huỳnh Thị C, sinh năm 1978; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23 tháng 10 năm 2019 cho đến nay “Bị cáo có mặt tại phiên tòa”.
Người bị hại:
Cháu Ngô Thị Huyền D, sinh ngày 08 tháng 11 năm 2004; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú ấp 8, xã TT, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (có mặt)
Người đại diện hợp pháp của người bị hại cháu Ngô Thị Huyền D:
Ông Ngô Văn Đ, sinh năm 1982; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú khu phố TA, thị trấn TP, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước (có mặt).
Bà Nguyễn Thị Kim E, sinh năm 1985; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú ấp 8, xã TT, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng cuối tháng 09 năm 2018, Trần Văn A, sinh năm 1998 đến thuê trọ tại ấp 02, xã TT, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước thì quen biết và nảy sinh tình cảm yêu đương với cháu Ngô Thị Huyền D, sinh ngày 08 tháng 11 năm 2004, thường trú tại ấp 8, xã TT, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 14 tháng 10 năm 2019, D đi đến phòng trọ của A để nói chuyện vì D và A đang giận nhau. Sau đó cả hai nằm ngủ đến khoảng 10 giờ cùng ngày thì D ôm hôn A nên A hôn lại D. Lúc này A xin quan hệ tình dục với D thì D đồng ý. A tự cởi quần của mình rồi dùng tay trái cởi quần của D, sau đó cả hai cùng quan hệ tình dục khoảng 02 phút thì xong. Cả hai mặc quần vào và nằm ngủ đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì D đi về nhà. Đến ngày 23 tháng 10 năm 2019, chị Nguyễn Thị Kim E là mẹ ruột của cháu D biết được sự việc nên đã đến Công an xã TT, thành phố Đồng Xoài tố cáo hành vi của A. Cùng ngày, A đến Công an xã TT đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại kết luận giám định pháp y về tình dục số 352/2019/TD ngày 29 tháng 10 năm 2019 của trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Bình Phước xác định, dấu vết tổn thương bộ phân sinh dục của cháu Ngô Thị Huyền D: Màng trinh giãn, đường kính khoảng 1,5cm, có vết rách cũ nông ở vị trí 2 giờ, 4 giờ, 10 giờ; không bầm tím, không xung huyết. Hiện tại không có thai.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đồng Xoài đã thu giữ của Trần Văn A 01 quần vải dài màu xanh xám; 01 dây thắt lưng màu vàng nâu; 01 quần lót màu xanh có viền màu đỏ có chữ ERICS. Tạm giữ của Ngô Thị Huyền D 01 áo khoác da màu đen dài tay có chữ Patagonia; 01 áo thun ngắn tay màu trắng có chữ Am I Wrong, We All Look Same, Why? I’m Differe, Don’t Hate Me, có hình đầu người dùng bàn tay che 2 mắt lại; 01 áo ngực màu hồng nhạt; 01 quần vải dài màu đen có dây kéo ở hai bên ống quần và 01 quần lót màu đen.
Tại Bản cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 14 tháng 02 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài đã truy tố bị cáo Trần Văn A về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo khoản 1 Điều 145 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 145; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn A mức án từ 12-15 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn A đồng ý bồi thường cho người bị hại cháu Ngô Thị Huyền D số tiền 20.000.000 đồng.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy số vật chứng thu giữ trong vụ án do không còn giá trị sử dụng.
Bị cáo Trần Văn A tại phiên tòa đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản trạng số 31/CT-VKS ngày 14 tháng 02 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài đã truy tố đối với bị cáo.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại, với kết luận điều tra, kết luận giám định pháp y về tình dục, biên bản người phạm tội ra đầu thú, vật chứng vụ án cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Thấy, phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng việc cháu Ngô Thị Huyền D, sinh ngày 08 tháng 11 năm 2004 còn nhỏ tuổi nên khoảng 10 giờ ngày 14 tháng 10 năm 2019, bị cáo Trần Văn A đã cùng với cháu D thực hiện hành vi quan hệ tình dục tại phòng trọ của A tại ấp 02, xã TT, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
[3] Căn cứ vào hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 145 của Bộ luật Hình sự. Cho nên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài truy tố bị cáo về tội“Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”theo khoản 1 Điều 145 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về tình dục của người phụ nữ, gây ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của người bị hại, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần có mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
[5] Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, sau khi phạm tội bị cáo đã đến Cơ quan Công an đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của người bị hại cháu Ngô Thị Huyền D là ông Ngô Văn Đ và bà Nguyễn Thị Kim E yêu cầu bị cáo Trần Văn A bồi thường cho cháu D số tiền 20.000.000 đồng. Bị cáo A tại phiên tòa cũng đồng ý bồi thường số tiền trên cho người bị hại. Xét thấy, sự thỏa thuận giữa bị cáo và người đại diện hợp pháp của người bị hại là tự nguyện, phù hợp với các quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra công anh thành phố Đồng Xoài thu giữ của bị cáo A 01 quần vải dài màu xanh xám; 01 dây thắt lưng màu vàng nâu; 01 quần lót màu xanh có viền màu đỏ có chữ ERICS; Thu giữ của cháu D 01 áo khoác da màu đen dài tay có chữ Patagonia; 01 áo thun ngắn tay màu trắng có chữ Am I Wrong, We All Look Same, Why? I’m Differe, Don’t Hate Me, có hình đầu người dùng bàn tay che 2 mắt lại; 01 áo ngực màu hồng nhạt; 01 quần vải dài màu đen có dây kéo ở hai bên ống quần; 01 quần lót màu đen. Các tài sản nêu trên hiện nay không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn A (tên gọi khác: không) phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”
2. Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 145; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Văn A 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 23 tháng 10 năm 2019.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Trần Văn A có trách nhiệm bồi thường cho người bị hại là cháu Ngô Thị Huyền D số tiền 20.000.000 đồng.
“Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015”.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.
4. Về vật chứng vụ án:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 quần vải dài màu xanh xám; 01 dây thắt lưng màu vàng nâu; 01 quần lót màu xanh có viền màu đỏ có chữ ERICS của bị cáo Trần Văn A; 01 áo khoác da màu đen dài tay có chữ Patagonia; 01 áo thun ngắn tay màu trắng có chữ Am I Wrong, We All Look Same, Why? I’m Differe, Don’t Hate Me, có hình đầu người dùng bàn tay che 2 mắt lại; 01 áo ngực màu hồng nhạt; 01 quần vải dài màu đen có dây kéo ở hai bên ống quần; 01 quần lót màu đen của người bị hại là cháu Ngô Thị Huyền D.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0001781, quyển số 0036, ký hiệu D47/2017 ngày 27 tháng 3 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Đồng Xoài).
5. Về án phí sơ thẩm:
Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo A phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Án phí dân sự sơ thẩm: bị cáo A phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
6. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo; người bị hại; người đại diện hợp pháp của người bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước; - VKSND Thành phố Đồng Xoài; - VKSND tỉnh Bình Phước; - Chi cục THADS Thành phố Đồng Xoài; - Sở tư pháp tỉnh Bình Phước; - CA Thành phố Đồng Xoài; - Phòng PV 06 Công an tỉnh BP; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS-VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Văn Phú Vinh |