- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự Nguyễn Đức C Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2020/HS-ST Ngày: 15-12-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Thường.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Xuyến
Bà Nguyễn Minh Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Kim Oanh - Thư ký Toà án nhân dân quận
Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An tham gia phiên toà: Bà
Trần Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải An xét
xử sơ thẩm C khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2020/TLST-HS ngày 19
tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2020/QĐXXST-HS
ngày 02 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức C , sinh ngày 12/9/1986, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số X
đường Bùi Thị Từ N, phường Đ, quận Hải An, Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do;
trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không;
quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức K và bà Đặng Thị H, có vợ là Bùi
Ngọc K (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: không, tạm giữ ngày 08/8/2020
chuyển tạm giam ngày 10/8/2020; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 07/8/2020, Nguyễn Đức C đi xe môtô YAMAHA
JUPITER mang BKS 16M6-2764 từ nhà đến khu vực đường tàu Cầu Đất, quận
Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng để mua ma túy về sử dụng. Tại đây C gặp
một người đàn ông không quen biết, khoảng 40 tuổi, hỏi mua 500.000 đồng ma túy, người đàn ông đưa cho 04 túi nilon trong có chứa tinh thể màu trắng. C cho số ma túy trên vào 01 túi nilon cất vào hộp đựng kính, để vào trong cốp xe, đi về nhà. Khi C đi đến khu vực trước cửa số nhà 101X đường Nguyễn Bỉnh K, phường Đằng H, quận Hải An, thành phố Hải Phòng thì bị C an phường Đằng Hải kiểm tra trong cốp xe của C 01 hộp đựng kính mắt màu ghi bên trong có 01 túi nilon tối màu kích thước 14cm x 2cm, bên trong túi nilon có: 04 túi nilon nhỏ màu trắng (02 túi nilon kích thước 2.5cm x 2cm và 02 túi nilon có kích thước 1,5cm x 2cm) đều chứa tinh thể màu trắng (mẫu số 1); 06 vỏ túi nilon màu trắng; 01 cóong thủy tinh có chứa tạp chất màu nâu (mẫu số 2), 01 nắp nhựa màu vàng đục 02 lỗ trên gắn 01 ống hút nhựa màu trắng dài 27 cm, 01 nắp nhựa màu đỏ đục 02 lỗ. C khai nhận tinh thể màu trắng và tạp chất màu nâu trên coóng thủy thinh trên là ma túy do C mua về để bản thân sử dụng. Tổ C tác đưa C cùng toàn bộ tang vật và 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JUPITER, màu xanh đen BKS 16M6-2764 về trụ sở C an phường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại Kết luận giám định 493/KLGĐ ngày 08/8/2020 của Phòng kỹ thuật
hình sự C an thành phố Hải Phòng kết luận: Tinh thể màu trắng thu giữ trong 04 túi nilon (mẫu số 1) là ma túy có khối lượng 0,52gam, là loại Methamphetamine; tạp chất màu nâu thu giữ trong 01 cóong thủy tinh (mẫu số 2) là ma túy, loại Methamphetamine không đủ điều kiện xác định khối lượng của tạp chất.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Đức C đã khai nhận toàn bộ hành
vi phạm tội như nội dung trên. Đối với tạp chất màu nâu thu giữ trong 01 cóong thủy tinh, C khai nhận là ma túy đá C đã sử dụng hết còn lại cặn ở lần sử dụng vào tháng 7/2020. Số ma túy này, C mua của một người đàn ông không rõ lai lịch địa chỉ ở tại khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn.
Tại Cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 17 tháng 11 năm 2020, Viện kiểm sát
nhân dân quận Hải An đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như
nội dung vụ án đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền C tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết
định như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Đức C mức án từ 21 tháng đến 27 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị cáo làm nghề tự do, không có thu nhập ổn định và không có tài sản
riêng nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106
Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì có dấu niêm phong số 493/2020/PC09
chứa phần ma túy còn lại sau giám định; 01 hộp đựng mắt kính màu ghi, 01 nắp
nhựa màu vàng đục 02 lỗ trên gắn 01 ống hút nhựa màu trắng dài 27 cm, 01 nắp
nhựa màu đỏ đục 02 lỗ, 01 túi nilon tối màu kích thước 14cm x 20cm, 06 túi
nilon.
Đối với chiếc xe môtô YAMAHA JUPITER màu xanh đen BKS 16M6-
2764 hiện tài liệu điều tra chưa có đủ căn cứ xác định chủ sở hữu hợp pháp Cơ
quan cảnh sát điều tra C an quận Hải An - Hải Phòng tiếp tục điều tra, làm rõ
xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp
luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra C an
quận Hải An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên
trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ
tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên
tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố
tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều
hợp pháp.
- Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị
cáo tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng, báo cáo bắt giữ, tang vật thu
giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 15 giờ ngày
07/8/2020, tại khu vực trước cửa số nhà 101x Nguyễn Bỉnh K, Đằng H, Hải An,
Hải Phòng bị cáo Nguyễn Đức C đã có hành vi cất giữ trái phép 0,52gam chất
ma túy (loại Methamphetamine) để sử dụng thì bị bắt. Do vậy, Hội đồng xét xử
có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Đức C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma
túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý
độc quyền của nhà nước về chất ma túy, làm suy thoái đạo đức lối sống và là
nguyên nhân làm phát sinh những tội phạm khác gây mất trật tự xã hội.
Về nhân thân bị cáo tuy chưa có tiền án, tiền sự, nhưng bản thân là đối
tượng nghiện ma túy, không chịu tự cải tạo giáo dục mình cai nghiện, mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, nên cần phải xử lý nghiêm, bắt phải cách ly khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khẩn khai
báo hành vi phạm tội của mình, có thời gian phục vụ trong quân đội, nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật
Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Số ma tuý C an thu giữ của bị cáo C sau khi lấy
đi giám định lượng còn lại và 01 hộp đựng mắt kính màu ghi, 01 nắp nhựa màu vàng đục 02 lỗ trên gắn 01 ống hút nhựa màu trắng dài 27 cm, 01 nắp nhựa màu đỏ đục 02 lỗ, 01 túi nilon tối màu kích thước 14cm x 20cm, 06 túi nilon.
Xét là vật cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức C : 18 (mười tám) tháng tù, về tội Tàng trữ
trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 08 tháng 8 năm 2020.
Về xử lý tang vật:
Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì có dấu niêm phong số 493/2020/PC09 chứa
phần ma túy còn lại sau giám định; 01 hộp đựng mắt kính màu ghi, 01 nắp nhựa màu vàng đục 02 lỗ trên gắn 01 ống hút nhựa màu trắng dài 27 cm, 01 nắp nhựa màu đỏ đục 02 lỗ, 01 túi nilon tối màu kích thước 14cm x 20cm, 06 túi nilon.
(Theo biên bản giao, nhận tài sản, vật chứng ngày 20 tháng 11 năm 2020
tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An).
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đức C phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn)
đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày
kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND quận Hải An; - VKSND thành phố Hải Phòng; - CQCSĐT - C an quận Hải An; - CQTHAHS - C an quận Hải An; - PV06 - C an thành phố Hải Phòng; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Chi cục THADS quận Hải An; - Trại tạm giam - C an Hải Phòng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Thường |