- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị V - Chứa mại dâm - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Thị V phạm tội “Chứa mại dâm”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 327 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YM - TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2020/HS-ST Ngày 29 tháng 09 năm 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YM, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội Đ xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Diệu Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cử
Ông Phạm Văn Toan
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện YM, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện YM, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Ngoan - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 09 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện YM, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm C khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2020/TLST-HS ngày 07 tháng 09 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2020/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 09 năm 2020 đối với bị cáo: Phạm Thị V, sinh năm 1969 tại YM, Ninh Bình. Nơi cư trú: Xóm 7, xã MS, huyện YM, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Kinh doanh nhà nghỉ; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Nh (Đã chết) và bà Đỗ Thị Th, chồng Trần Văn S, có 02 con đã trưởng thành; tiền án, tiền sự: Không; lịch sử bản thân: Ngày 21/12/2017 bị C an huyện YM, tỉnh Ninh Bình xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 750.000 Đ về hành vi “Không thực hiện đầy đủ các quy định về quản lý an ninh trật tự đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện”, ngày 27/02/2018 chấp hành nộp tiền phạt; bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 13/7/2020 đến ngày 16/7/2020 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay “Có mặt”.
- Người làm chứng: Anh Điền Đức Đ, sinh năm 1987; anh Hoàng Văn C, sinh năm 2000; chị Vi Thị Ph, sinh năm 1994; chị Hà Thị T, sinh năm 1987, anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1979; anh Lê Văn T1, sinh năm 1986 đều “Vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Thị V là chủ nhà nghỉ Đức Sinh, có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh cá thể, kinh doanh nhà nghỉ bình dân tại xóm 7, xã MS, huyện YM, tỉnh Ninh Bình. Ngày 12/7/2020, Vi Thị Ph trú tại bản Luồng, xã P, huyện Q, tỉnh Nghệ An và Hà Thị T trú tại phố Đ Tâm 2, xã T, huyện BT, tỉnh Thanh Hóa đến nhà nghỉ Đức Sinh thuê phòng và có đặt vấn đề với V xin được bán dâm tại nhà nghỉ Đức Sinh, V đồng ý và thỏa thuận miệng với P, T: Việc ăn, nghỉ cho P, T sẽ do V sắp xếp, khi nào khách có nhu cầu mua dâm thì V giới thiệu cho P, T bán dâm tại nhà nghỉ, mỗi lượt khách mua dâm, V sẽ thu của khách số tiền 200.000 Đ, V sẽ hưởng 50% tương đương với số tiền 100.000 Đ còn gái bán dâm sẽ hưởng 100.000 Đ, sau khi mua bán dâm xong thì V và gái bán dâm sẽ thanh toán tiền cho nhau luôn. V bố trí cho P ở tại phòng 202, T ở phòng 407 của nhà nghỉ.
Trưa ngày 13/7/2020, Điền Đức Đ và Hoàng Văn C rủ nhau đến nhà nghỉ Đức Sinh để mua dâm. Đến nơi, Đ và C gặp V ở quầy lễ tân, Đ hỏi V “Cho cháu hai vé”, ý đặt vấn đề muốn mua dâm cho hai người, V Đ ý và thỏa thuận số tiền mua dâm là 200.000 đồng/1 người. V hướng dẫn Đ lên phòng 203, C lên phòng 202 của nhà nghỉ rồi gọi cho T từ phòng 407 xuống phòng 203 bán dâm cho Đ. Đ đến phòng 203 đợi khoảng 5 phút thì T đi vào, Đ tự cởi quần áo của mình ra và lên giường, T tự cởi quần áo của mình và lên nằm cùng Đ. T lấy 01 bao cao su nhãn hiệu “VIP” xé vỏ bao và đưa cho Đ đeo vào dương vật, rồi cả hai quan hệ tình dục với nhau. C lên phòng 202 gặp P đang ở trong phòng, C đi vào tắm rửa, sau đó C và P tự cởi quần áo của mình ra, P lấy 01 bao cao su nhãn hiệu VIP dưới gối, xé vỏ bao và đeo vào dương vật của C, sau đó cả hai quan hệ tình dục với nhau. Sau khi thực hiện hành vi quan hệ tình dục với T, Đ vứt bao cao su ở nền nhà vệ sinh phòng 203, mặc quần áo rồi đi xuống phòng lễ tân gặp V thanh toán tiền mua dâm cho Đ và C mỗi người 200.000 đồng, tổng cộng 400.000 đồng, sau đó Đ ngồi chờ C mua dâm xong rồi cùng về.
Hồi 14 giờ cùng ngày, khi C và P đang mua bán dâm tại phòng 202 nhà nghỉ Đức Sinh thì bị tổ công tác Cơ quan cảnh sát điều tra C an tỉnh Ninh Bình phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 vỏ bao cao su bị xé rách nhãn hiệu “VIP” và 01 bao cao su đã qua sử dụng; Thu giữ tại phòng 203: 01 vỏ bao cao su bị xé rách nhãn hiệu “VIP” và 01 bao cao su đã qua sử dụng; Thu giữ của Phạm thị V số tiền 3.130.000 Đ, 10 hộp bao cao su nhãn hiệu “VIP” mỗi hộp có 03 bao cao su chưa qua sử dụng.
Tại Bản cáo trạng số 44/CT-VKSYM ngày 07 tháng 09 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện YM đã truy tố Phạm Thị V về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thị V đã khai: Bị cáo làm nghề kinh doanh nhà nghỉ từ năm 2011 đến nay. Ngày 12/7/2020, T và P đến nhà nghỉ thuê phòng và đề nghị bị cáo cho bán dâm tại nhà nghỉ, do hám lợi và muốn kiếm thêm thu nhập nên bị cáo đồng ý và thỏa thuận bị cáo sẽ lo ăn, ở cho gái bán dâm, mỗi lần có khách mua dâm bị cáo sẽ thu 200.000 đồng/1 lượt, số tiền đó bị cáo hưởng 50% và gái bán dâm hưởng 50%. Bị cáo bố trí cho T và P ăn nghỉ tại nhà nghỉ. Ngày 12/7/2020 không có khách mua dâm. Trưa ngày 13/7/2020, có 02 khách đến mua dâm là anh Đ và anh C, anh Đ là người đứng ra đặt vấn đề mua dâm cho cả hai người, bị cáo thỏa thuận giá với anh Đ là 200.000 đồng/1 người, sau đó bị cáo bố trí cho T và P bán dâm tại phòng 202 và 203 nhà nghỉ. Khoảng 20 phút sau, anh Đ mua dâm xong trước xuống thanh toán tiền cho cả 2 người là 400.000 đồng. Khi P đang bán dâm cho anh C lại thì bị lực lượng C an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện YM giữ quyền C tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố để xét xử bị cáo Phạm Thị V về tội “Chứa mại dâm” và đề nghị Hội Đ xét xử:
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 327; Điều 65; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Thị V từ 15(Mười lăm) đến 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách 30 đến 36 tháng. Phạt tiền bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 02 vỏ bao cao su bị xé rách nhãn hiệu “VIP”, 02 bao cao su đã qua sử dụng, 10 hộp bao cao su nhãn hiệu “VIP” mỗi hộp có 03 bao cao su chưa qua sử dụng.
Tịch thu xung quỹ Nhà nước số tiền 400.000 đồng. Trả lại cho bị cáo Phạm Thị V số tiền 2.730.000 đồng nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Áp dụng Điều 136, Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH về án phí, lệ phí: Buộc bị cáo V phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm theo quy định.
Lời nói sau cùng của bị cáo V: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội Đ xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phạm Thị V đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 13/07/2020 tại xóm 7, xã MS, huyện YM, tỉnh Ninh Bình; Phạm Thị V đã có hành vi cho Điền Đức Đ và Hoàng Văn C mua bán dâm với Hà Thị T và Vi Thị Ph tại nhà nghỉ Đức Sinh do V quản lý nhằm thu lợi bất chính thì bị phát hiện, bắt quả tang. Phạm Thị V là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, hành vi của Phạm Thị V đã phạm vào tội “Chứa mại dâm” quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự.
“Điều 327. Tội chứa mại dâm:
1. Người nào chứa mại dâm thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 Đ đến 100.000.000 Đ, phạt quản chế từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện YM truy tố bị cáo Phạm Thị V về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Bố, mẹ đẻ bị cáo tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng ba và Huy chương kháng chiến hạng nhì, mẹ chồng bị cáo được Chủ tịch nước tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, gia đình bị cáo đang trực tiếp thờ phụng liệt sỹ và bà mẹ Việt Nam anh hùng, hoàn cảnh kinh tế khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Tình tiết tăng nặng, Tiền án, Tiền sự: Không có.
- Nhân thân: Năm 2017 đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Không thực hiện đầy đủ các quy định về quản lý an ninh trật tự đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện”, ngày 27/02/2018 chấp hành xong.
Xét tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đạo đức, thuần phong, mỹ tục, đến đời sống văn hóa, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, là một trong những nguyên nhân lây truyền các bệnh xã hội. Kinh doanh nhà nghỉ là một ngành nghề nhạy cảm, kinh doanh có điều kiện, nhưng bị cáo không biết làm ăn chân chính, đã lợi dụng việc kinh doanh nhà nghỉ để chứa mại dâm nhằm thu lời bất chính, do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc là hình phạt tù và hình phạt bổ sung là phạt tiền để giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Khi lượng hình cũng cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu, không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng, mặc dù nhân thân đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng hành vi vi phạm hành chính không liên quan đến hành vi phạm tội, thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 6 tháng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trong đó có 01 tình tiết ở khoản 1 và nhiều tình tiết ở khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, hiện bị cáo là người trực tiếp thờ phụng liệt sỹ và mẹ Việt Nam anh hùng, có nơi cư trú rõ ràng, việc cho bị cáo được hưởng án treo sẽ không gây nguy hiểm cho xã hội, vì vậy không cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cũng đủ để giáo dục cải tạo bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo nhận thức, sửa chữa sai lầm, tiếp tục lao động giúp ích cho gia đình và xã hội.
Về vật chứng của vụ án:
02 vỏ bao cao su bị xé rách nhãn hiệu “VIP”, 02 bao cao su đã qua sử dụng, 10 hộp bao cao su nhãn hiệu “VIP” mỗi hộp có 03 bao cao su chưa qua sử dụng là phương tiện sử dụng để phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Số tiền 3.130.000 đồng thu giữ của bị cáo trong đó: 400.000 đồng là số tiền do phạm tội mà có cần tịch thu xung quỹ Nhà nước. Số tiền 2.730.000 đồng là tiền của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
Trong vụ án, Điền Đức Đ, Hoàng Văn C có hành vi mua dâm; Hà Thị T, Vi Thị Ph có hành vi bán dâm; Ngày 16/7/2020 C an tỉnh Ninh Bình đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đ, C, T, P là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Do bị tuyên có tội nên bị cáo V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Thị V phạm tội “Chứa mại dâm”
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 327; Điều 65; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Thị V 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng kể từ ngày tuyên án (29/09/2020). Phạt tiền bổ sung 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã MS, huyện YM, tỉnh Ninh Bình theo dõi, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi làm việc, nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã MS trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 02 vỏ bao cao su bị xé rách nhãn hiệu “VIP”, 02 bao cao su đã qua sử dụng, 10 hộp bao cao su nhãn hiệu “VIP” mỗi hộp có 03 bao cao su chưa qua sử dụng.
(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 9/9/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra C an huyện YM và Chi cục Thi hành án dân sự huyện YM)
- Tịch thu xung quỹ Nhà nước số tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng).
- Trả lại cho bị cáo Phạm Thị V số tiền 2.730.000đ (Hai triệu bẩy trăm ba mươi nghìn đồng) nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
(Hiện số tiền đang được gửi tại tài khoản của Chi cục Thi hành án huyện YM theo Ủy nhiệm chi lập ngày 9/9/2020 giữa C an huyện YM và Chi cục Thi hành án huyện YM).
2. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Phạm Thị V phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm C khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 29/09/2020.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình (1); - VKSND tỉnh Ninh Bình (1); - VKSND huyện YM (1); - C an huyện YM (1); - Cơ quan THA hình sự huyện YM (1); - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Ninh Bình (1); - Chi cục THA dân sự huyện YM (1); - Bị cáo (1); - Người có QL&NV liên quan (4); - UBND xã MS (1); - Lưu Hồ sơ, VP (2). - Lưu VP (1). | TM. HỘI Đ XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Diệu Oanh (Đã ký) |