vanban.org

Bản án 45/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu Tuyên án 10/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 332 và Điều

333 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý a B - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 332 và Điều
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 45/2020/HS-ST

Ngày: 10/12/2020

HUYỆN SÌN HỒ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hồng Ngoãn. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tẩn A Sếnh và Ông Tẩn Phàn Pao. Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Trung Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Gia Binh - Kiểm sát viên. Ngày 10 tháng 12 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo: Lý A Bọng tên gọi khác: Lý A H; sinh năm: 1994; nơi sinh: huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản Ng Ch, xã N Ch, huyện S H, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý A L và Con bà Tẩn Thị H; vợ: Đặng Thị T, bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 23 tháng 6 năm 2020 đến ngày 02 tháng 7 năm 2020. Hiện Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02 tháng 7 năm 2020 tại xã N Ch, huyện S H, tỉnh Lai Châu; có mặt. Người tham gia tố tụng khác: - Người làm chứng: 1. Chẻo Lao T (tên gọi khác là Ton) - sinh năm: 1964. Địa chỉ: Bản N L 1, xã Ph S L, huyện S H, tỉnh Lai Châu. vắng mặt. 2. Lý A Lành - sinh năm: 1996. Địa chỉ: Bản Ng Ch, xã N Ch, huyện S H, tỉnh Lai Châu. vắng mặt. 3. Lý A Á - sinh năm: 1995.

Địa chỉ: Bản Ng Ch, xã N Ch, huyện S H, tỉnh Lai Châu. vắng mặt. 4. Lý A H - sinh năm: 1990. Địa chỉ: Bản N P, xã N Ch, huyện S H, tỉnh Lai Châu. vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ ngày 23/6/2020, sau khi uống rượu tại nhà Lý A Á trú tại bản Ng Ch, xã N Ch, huyện S, tỉnh Lai Châu, Lý A B (tên gọi khác: Lý A H) sinh năm 1994 trú tại bản Ng Ch, xã N Ch rủ Lý A L sinh năm 1996, Lý A Á sinh năm 1995 trú cùng bản và Lý A H sinh năm 1990 trú tại bản N P, xã N Ch đến xã N T, huyện Sìn Hồ chơi, cả 03 người đều đồng ý. B điều khiển xe máy chở H, còn L điều khiển xe máy chở Á, khi đi đến trung tâm xã Nậm Tăm thì B tiếp tục rủ L, Á, H đến bản N L 1, xã Ph S L, huyện Sìn Hồ, Bọng nói đi có việc nên cả 03 người đều đồng ý. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, khi đi đến ngã ba thuộc bản Nậm Lúc 1, B nói với L, Á, H ở đó đợi, còn B một mình điều khiển xe máy của H đến nhà Chẻo Lao T (tên gọi khác là Ton) sinh năm 1964 trú tại bản Nậm Lúc 1 để tìm mua Heroine sử dụng. Khi đến nơi, B thấy T và một người đàn ông tự giới thiệu tên là P, khoảng 40 tuổi đang trong nhà T. B mua của T một ít Heroine với giá 50.000 đồng và tự ý sử dụng hết bằng hình thức hít ngay tại bàn uống nước nhà T, T nhìn thấy nhưng không nói gì. Sau khi sử dụng xong, B tiếp tục hỏi mua Heroine của T nhưng T trả lời còn một ít để sử dụng, không bán nữa. Lúc này, P hỏi B có mua Heroine nữa không, nếu có thì đưa tiền cho P lấy hộ. B trả lời có và đưa cho P 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và nói với Páo mua 400.000 đồng Heroine. Páo cầm tiền đi ra ngoài, còn B ở nhà T đợi. Khoảng 05 phút sau, P quay lại nhà T, đưa cho B 01 gói Heroine, ngoài gói bằng nilon màu xanh và 100.000 đồng tiền thừa, B đưa lại cho P 30.000 đồng để trả công. Sau đó, B lấy một phần nhỏ Heroine vừa mua được tự ý sử dụng bằng hình thức hít tại nhà của T, T nhìn thấy nhưng không nói gì. Sau khi sử dụng Heroine xong, B chia phần Heroine còn lại thành 02 gói nhỏ, đều gói bằng mảnh nilon màu xanh và gói chung lại bằng 01 mảnh nilon màu xanh khác bên ngoài rồi cất giấu trong túi quần bên phải đang mặc trên người, với mục đích để sử dụng dần. Sau đó, B điều khiển xe máy quay về ngã ba bản Nậm Lúc 1 và cùng L, Á, H đi về trung tâm xã Nậm Tăm để chơi. B không nói cho ai biết việc B tàng trữ Heroine trên người. Hồi 17 giờ 20 phút cùng ngày, khi cả 04 người đang đỗ xe ở đường trong bản NT 1, xã N T, huyện Sìn Hồ, cạnh quán bán hàng tạp hóa của nhà ông Vũ Xuân V sinh năm 1964 trú tại bản NT 1 thì bị tổ công tác phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (PC 04) Công an tỉnh Lai Châu đang làm nhiệm vụ tại khu vực bản NT 1, xã NT đến kiểm tra. Khi thấy lực lượng

Công an, Lý A B đã bỏ chạy, tổ công tác đuổi theo khoảng 10 mét thì B dùng tay phải móc trong túi quần bên phải ra gói Heroine đã cất giấu trước đó ném xuống sàn gỗ trước cửa quán bán hàng tạp hóa nhà ông Vũ Xuân V, tổ công tác đã kịp thời khống chế B, còn Lý A L, Lý A Á và Lý A H điều khiển 02 xe máy rời khỏi hiện trường. Trước sự việc trên, tổ công tác đã bảo vệ hiện trường, thông tin cho phòng PC 04 Công an tỉnh Lai Châu, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu và kỹ thuật hình sự đến khám nghiệm hiện trường và thu giữ, niêm phong lại vật chứng do Lý A Bọng ném ra. Hồi 08 giờ 00 phút ngày 24/6/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lai Châu tiến hành mở niêm phong vật chứng thấy bên trong gói nilon màu xanh thu giữ của Lý A B có 02 gói nhỏ, đều được gói ngoài bằng nilon màu xanh, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột khô màu trắng, có khối lượng lần lượt là 0,32 gam và 0,28 gam. Cơ quan điều tra đã trích 0,12 gam chất bột khô màu trắng ở mỗi gói để tiến hành giám chất ma túy (tổng cộng đã trích 0,24 gam). Tại bản Kết luận giám định số 346/GĐ-KTHS ngày 25/6/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: - Vật chứng thu giữ của Lý A B có tổng khối lượng là 0,60 gam (không phẩy sáu mươi gam). - 02 (hai) Mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu Mẫu 1, Mẫu 2) gửi giám định là ma túy, loại Heroine”. Tại Bản cáo trạng số: 44/CT-VKS-SH ngày 19 tháng 10 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu để xét xử bị cáo Lý A B về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố, không oan, không sai. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lý A B, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lý A B từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù; về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự; về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét tịch thu, tiêu huỷ: 0,36 gam Heroine là vật chứng còn lại sau khi gửi đi giám định; 03 mảnh ni lon màu xanh đây là vật chứng bị cáo gói chất ma tuý do không có giá trị sử dụng. Đối với 0,24 gam Heroine thu giữ của bị cáo Lý A B, Cơ quan Cảnh

sát điều tra Công an tỉnh Lai Châu đã gửi giám định, mẫu vật gửi giám định không hoàn lại nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các tài liệu, chứng cứ được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Nên các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp. [2] Đánh giá chứng cứ, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, hành vi của bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo Lý A Bđã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các lời khai của bị cáo và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, chứng cứ đã thu thập đúng trình tự, thủ tục tố tụng hình sự; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 17 giờ 20 phút ngày 23/6/2020, tại bản N T 1, xã N T, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Lý A B sinh năm 1994 trú tại bản Ng Ch, xã N Ch, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,60 gam Heroine, mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (PC 04) Công an tỉnh Lai Châu phát hiện, thu giữ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình, hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo Lý A B là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến hình hình an ninh, trật tự trên địa bàn huyện Sìn Hồ. Bị cáo nhận thức được hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật để giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố và áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Lý

A B từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. [3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Lý A Bọng không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự. [4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Vì vậy bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng trong pháp luật của Nhà nước ta. [5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, không có khả năng thi hành hình phạt tiền, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. [6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu và tiêu huỷ: 0,36 gam Heroine là vật chứng còn lại sau khi gửi đi giám định; 03 mảnh ni lon màu xanh đây là vật chứng bị cáo gói chất ma tuý do không có giá trị sử dụng. Đối với 0,24 gam Heroine thu giữ của bị cáo Lý A B, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lai Châu đã gửi giám định, mẫu vật gửi giám định không hoàn lại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [7] Về án phí: Theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm. [8] Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. [9] Về biện pháp ngăn chặn: Cấm bị cáo đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày tuyên án cho đến thời điểm bị cáo vào trại chấp hành án. [10] Về trách nhiệm của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú và những người liên quan:

Thông qua vụ án này, đề nghị cấp chính quyền địa phương xã Nậm Cha, huyện Sìn Hồ nơi bị cáo Lý A B đang cư trú cần nâng cao tuyên truyền, giải thích cho người dân có ý thức chấp hành tốt các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ta. Tăng cường đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy trên địa bàn và có các biện pháp giữ gìn trật tự an ninh trên địa bàn. Đối với Chẻo Lao T (tên gọi khác là Ton): Bị cáo Lý A B khai nhận T là người đã bán cho Bọng 50.000 đồng Heroine và bỏ mặc Bọng sử dụng trái phép chất ma túy trong nhà của mình. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã triệu tập Chẻo Lao T để đấu tranh làm rõ. Tuy nhiên, T không thừa nhận về hành vi này và cũng không biết Lý A B và người đàn ông tên Páo nói trên. Do đó, chỉ dựa vào lời khai duy nhất của bị cáo Lý A B và không có tài liệu, chứng cứ khác nên không đủ căn cứ để điều tra, xử lý đối với Chẻo Lao T về hành vi này. Về nguồn gốc số Heroine thu giữ của bị cáo Lý A B: Bị cáo khai nhận đã nhờ một người đàn ông tên Páo khoảng 40 tuổi mua hộ. Tuy nhiên, quá trình điều tra, cơ quan điều tra không xác định được người đàn ông tên Páo này là ai nên không đủ căn cứ để điều tra, xử lý trong cùng vụ án này. Đối với Lý A L, Lý A Á và Lý A H: Quá trình điều tra vụ án, bị cáo Lý A B khai không nói cho L, Á, H biết việc B đi mua và tàng trữ trái phép Heroine. Qua xác minh, hiện L, Á và H đều không có mặt tại địa phương. Do đó không có căn cứ để kết luận 03 người này có liên quan gì đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Lý A B. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; 1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý A B, tên gọi khác: Lý A H , phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lý A B : 01(một) năm 09 (chín ) tháng tù, được khấu trừ thời hạn tạm giữ 09 ngày, bị cáo còn phải chấp hành 01 (một) năm 08 (tám) tháng 21 (hai mươi mốt ) ngày tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

3.Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 0,36 gam Heroine là vật chứng còn lại sau khi gửi đi giám định; 03 mảnh ni lon màu xanh đây là vật chứng bị cáo gói chất ma tuý do không có giá trị sử dụng. 4. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm. 5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10 tháng 12 năm 2020).

Cỡ chữ