- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp Hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Chị Nguyễn Thái H và anh Vũ Đức D.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xử; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xử; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2020/HNGĐ-ST Ngày: 15- 9 - 2020 V/v tranh chấp về ly hôn và nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đinh Văn Bình
Bà Phạm Thị Kim Liên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan - Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 181/2020/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2020 về tranh chấp về ly hôn và nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 686/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 741/QĐST - HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thái H; nơi cư trú: Số 18A1/2 L, phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Anh Vũ Đức D; nơi cư trú: Số 8/250 T, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 28/4/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thái H trình bày: Chị và anh Vũ Đức D xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng vào ngày 20 tháng 3 năm 2017, đến nay có 01 con chung là Vũ Đức M, sinh ngày 28/01/2018. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc nhưng đến tháng 02/2018 thì phát sinh mâu thuẫn do không hòa hợp nhau về quan điểm sống, lối sống, tính cách, anh D mải mê chơi bời cờ bạc, thường xuyên đi sớm về khuya, không quan tâm, trách nhiệm đến vợ con, chị đã nhiều lần góp ý nhưng không thay đổi. Từ đó, vợ chồng thường xuyên xảy ra những cuộc tranh cãi, xích mích làm cho không khí gia đình nặng nề, tình cảm bị rạn nứt, xa cách, mỗi người tự làm theo suy nghĩ của riêng mình mà không có sự bàn bạc thống nhất cùng nhau. Từ tháng 11/2018 chị đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ để ở và vợ chồng sống ly thân từ đó tới nay mặc dù đã được hai bên gia đình nhiều lần khuyên giải. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng, tiếp tục cuộc sống chung cũng không mang lại hạnh phúc nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh D. Về con chung: Chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con đến khi thành niên; việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.Về án phí: Chị H nhận nộp án phí ly hôn sơ thẩm.
Tại các buổi làm việc vào ngày 16/6/2020, ngày 03/7/2020; các buổi hoà giải vào ngày 22/7/2020, ngày 07/8/2020 và tại phiên tòa anh D đều vắng mặt không có lý do dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự
Về việc giải quyết vụ án: Chị H và anh D xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, quận Lê Chân, Hải Phòng vào năm 2017 và có 01 con chung. Quá trình chung sống, đến năm 2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do quan điểm sống, lối sống, tính cách không hòa hợp, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung và đã ly thân mỗi người một nơi từ tháng 11/2018 đến nay. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị H được ly hôn anh D; về con chung: Giao con chung là Vũ Đức M, sinh ngày 28/01/2018 cho chị H nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận; về tài sản chung: Vợ chồng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
[1] Chị Nguyễn Thái H khởi kiện xin ly hôn anh Vũ Đức D. Đây là tranh chấp về ly hôn và nuôi con khi ly hôn; bị đơn cư trú tại địa bàn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
Bị đơn anh Vũ Đức D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt nên theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thái H và anh Vũ Đức D kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Giấy chứng nhận kết hôn số 36/2017 do Ủy ban nhân dân phường V, quận Lê Chân, Hải Phòng cấp ngày 20 tháng 3 năm 2017 nên được coi là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc nhưng đến tháng 11/2018 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng do không hợp nhau về quan điểm sống, lối sống, tính cách, thường xuyên xảy ra va chạm làm cho tình cảm vợ chồng bị rạn nứt, xa cách, không tìm được tiếng nói chung và đã sống ly thân mỗi người một nơi từ đó cho đến nay, không quan tâm đến nhau về mọi mặt. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập các bên đến Tòa án để làm việc và tiến hành hoà giải nhưng anh D đều không có mặt; tại phiên toà ngày 26/8/2020 và ngày 15/9/2020 anh D cũng không có mặt để đưa ra quan điểm của mình về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án, điều đó cho thấy anh D đã tự tước đi quyền của chính mình và không thực sự cố gắng trong việc hàn gắn những rạn nứt trong quan hệ tình cảm vợ chồng. Tiến hành thu thập chứng cứ xác M về thực trạng hôn nhân giữa chị H và anh D tại nơi cư trú và gia đình cho thấy: Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ cuối năm 2018 do bất đồng nhau về quan điểm sống, cách sống, tính cách, anh D mải chơi, hay đi sớm về khuya, không quan tâm đến vợ con và hai bên đã sống ly thân mỗi người một nơi. Do vậy, việc chị H đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh D là có cơ sở nên cần chấp nhận.
Xét thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh D đã thực sự trầm trọng; cuộc sống chung không thể kéo dài; mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xử cho chị Nguyễn Thái H được ly hôn anh Vũ Đức D là phù hợp.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Vũ Đức M, sinh ngày 28/01/2018 chị H xin được nuôi dưỡng đến khi thành niên. Hội đồng xét xử xét thấy: Cháu M hiện chưa đủ 36 tháng tuổi và từ khi vợ chống sống ly thân thì cháu M được chị H nuôi dưỡng nên nguyện vọng của chị H là phù hợp với điều kiện, hành cảnh thực tế và phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
Về tài sản chung: Vợ chồng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Chị Nguyễn Thái H và anh Vũ Đức D.
2. Về con chung: Giao con chung là Vũ Đức M, sinh ngày 28/01/2018 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước. Số tiền này chị H đã nộp đủ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân theo Biên lai thu tiền số 0013947 ngày 13 tháng 5 năm 2020.
Chị H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh D được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND quận Lê Chân; - Chi cục THADS quận Lê Chân; - UBND p.V, q.Lê Chân, Hải Phòng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Hƣơng THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hƣơng |