vanban.org

Bản án 45/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Kim Thị Cành N được ly hôn với ông Lâm Hoàng N.

Về con chung: Giao cho ông Lâm Hoàng N được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con tên Lâm Văn P, sinh ngày 01/01/2009 đến tuổi trưởng; Giao cho bà Kim Thị Cành N được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con tên Lâm Kim N, sinh ngày 01/9/2013 đến tuổi trưởng bà Kim Thị Cành N và ông Lâm Hoàng N được quyền thăm nom con… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Kim Thị Cành N được ly hôn với ông Lâm Hoàng N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ XUYÊN
TỈNH SÓC TRĂNG
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 14-8-2020
“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhiện.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lâm Thị Tám.

2. Bà Huỳnh Thị Cẩm Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Mỹ Xuyên tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Mỹ Liên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 126/2020/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Kim Thị Cành N, sinh năm 19xx(Bà N có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Ông Lâm Hoàng N, sinh năm 19xx (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc ly hôn ngày 04 tháng 02 năm 2020, tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay nguyên đơn bà Kim Thị Cành N trình bày:

Bà và ông Lâm Hoàng N có tổ chức cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc được đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn do ông Nkhông yêu thương quan tâm đến vợ con, mỗi khi ông sai sỉn về còn đánh đập, chửi bới, xúc phạm bà từ đó vợ chồng mất dần hạnh phúc, đến năm 2014 thì bà và ông Nkhông còn chung sống cùng nhau cho đến nay. Nay bà thấy cuộc sống hôn nhân giữa bà và ông Lâm Hoàng N không có hạnh phúc nên bà yêu cầu được ly hôn cùng ông Lâm Hoàng N.

Về con chung: Bà và ông Lâm Hoàng N có 02 đứa con chung tên Lâm Văn Phát, sinh ngày 01/01/2009, hiện đang sống với ông Lâm Hoàng N và con tên Lâm Kim N, sinh ngày 01/9/2013, hiện đang sống cùng bà Kim Thị Cành N. Khi ly hôn bà đồng ý tiếp tục giao con tên Lâm Văn Pcho ông Lâm Hoàng N nuôi đến trưởng thành, bà không cấp dưỡng nuôi con. Bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con tên Lâm Kim N đến trưởng thành bà không yêu cầu ông Ncấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có.

- Đối với bị đơn ông Lâm Hoàng N: Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự nhưng ông Lâm Hoàng N vắng mặt không có lý do cũng không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà Kim Thị Cành N.

Tại phiên tòa hôm nay Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, xét xử vụ án thì thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; tại phiên tòa hôm nay bà N có đơn xin xét xử vắng mặt; đối với bị đơn ông Lâm Hoàng N chưa thực hiện và chấp hành đúng quy định pháp luật do vắng mặt không có lý do tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, phiên hòa giải; ông Lâm Hoàng N đã được cấp tống đạt các văn bản tố tụng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, ông Nđã được triệu tập xét xử đến lần thứ hai nhưng ông vẫn vắng mặt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bà Kim Thị Cành N và ông Lâm Hoàng N.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của bà Kim Thị Cành N cho bà Kim Thị Cành N được ly hôn cùng ông Lâm Hoàng N. Về con chung tiếp tục giao cháu Lâm Văn Phát, sinh ngày 01/01/2009 cho ông Lâm Hoàng N nuôi dưỡng đến trưởng thành; tiếp tục giao cháu Lâm Kim N, sinh ngày 01/9/2013 cho bà Kim Thị Cành N nuôi dưỡng đến trưởng thành; về cấp dưỡng nuôi con ông Lâm Hoàng N, bà Kim Thị Cành N không yêu cầu nên không đặt ra xem xét; Về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung không có; Về án phí các đương sự phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay bà Kim Thị Cành N có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với ông Lâm Hoàng N đã được cấp tống đạt các văn bản tố tụng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, ông Nđã được triệu tập xét xử đến lần thứ hai nhưng ông Nvẫn vắng mặt, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bà Kim Thị Cành N và ông Lâm Hoàng N.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Kim Thị Cành N và ông Lâm Hoàng N cưới nhau năm 2008 ông, bà tự nguyện đăng ký kết hôn và được UBND xã B, huyện C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 178/2008 ngày 03/10/2008 nên quan hệ hôn nhân giữa bà Kim Thị Cành N và ông Lâm Hoàng N là hôn nhân hợp pháp.

Xét lý do yêu cầu ly hôn của bà Kim Thị Cành N, Hội đồng xét xử thấy rằng, sau khi kết hôn thì bà N, ông Nsống hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn do ông Nkhông lo cho gia đình, không yêu thương quan tâm đến vợ con, mỗi khi ông sai sỉn về còn đánh đập, chửi bới, xúc phạm bà từ đó vợ chồng sống không có hạnh phúc dẫn đến bà N đã sống ly thân cùng ông Ntừ năm 2014 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa bà N và ông Nđã không hạnh phúc dẫn đến bà N ông Nđã sống ly thân từ năm 2014 đến nay cũng đã lâu nhưng bà N và ông Nkhông hàn gắn tình cảm vợ chồng được. Vì vậy xét thấy cuộc sống hôn nhân giữa bà N và ông Nkhông thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Kim Thị Cành N.

Về con chung: Trong thời gian chung sống bà Kim Thị Cành N và ông Lâm Hoàng N có 02 đứa con chung tên Lâm Văn Phát, sinh ngày 01/01/2009, hiện đang sống với ông Lâm Hoàng N và con tên Lâm Kim N, sinh ngày 01/9/2013 hiện đang sống cùng với bà N. Khi ly hôn, con chung bà đồng ý nhường quyền nuôi con tên Lâm Văn Pcho ông Nnuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, bà yêu cầu tiếp tục nuôi con tên Lâm Kim N, sinh ngày 01/9/2013 đến trưởng thành. Xét thấy, từ khi bà Kim Thị Cành N và ông Lâm Hoàng N sống ly thân cùng nhau đến nay thì cháu Lâm Văn Psống chung cùng ông Nhị, đối với cháu Lâm Kim N thì hiện đang sống cùng bà N. Để tránh cuộc sống hiện tại của em Lam Kim Phát và Lâm Kim N không bị xáo trộn, không làm ảnh hưởng đến tâm lý và ổn định việc học của các cháu nên cần tiếp tục giao em Lâm Kim Phát cho ông Lâm Hoàng N được quyền tiếp tục nuôi con đến tuổi trưởng thành; đồng thời cần tiếp tục giao em Lâm Kim N cho bà Kim Thị Cành N được quyền tiếp tục nuôi con đến tuổi trưởng thành

Về cấp dưỡng: Bà Kim Thị Cành N và ông Lâm Hoàng N không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Nợ chung: Không có.

Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bà Kim Thị Cành N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56 Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Kim Thị Cành N được ly hôn với ông Lâm Hoàng N.

2.Về con chung: Giao cho ông Lâm Hoàng N được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con tên Lâm Văn P, sinh ngày 01/01/2009 đến tuổi trưởng; Giao cho bà Kim Thị Cành N được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con tên Lâm Kim N, sinh ngày 01/9/2013 đến tuổi trưởng bà Kim Thị Cành N và ông Lâm Hoàng N được quyền thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Kim Thị Cành N và ông Lâm Hoàng N không phải cấp dưỡng nuôi con.

4. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

5. Về Nợ chung: Không có.

6. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Kim Thị Cành N phải chịu là 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đ ình sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000300 ngày 12/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên bà N đã nộp xong.

Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với các đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo được tính kể ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai nơi cư trú, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ