- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa Võ Thị P - Nguyễn Văn H"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81; khoản 2 và khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, …
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2020/HNGĐ-ST Ngày: 22–9–2020 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Luân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Lâm.
2. Bà Sơn Thị Vành Đa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Yến – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý – Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 144/2020/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2020, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị P; địa chỉ: ấp M1, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H; địa chỉ: ấp P, xã M1, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 18/5/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Võ Thị P trình bày:
Vào năm 2012, chị P và anh H tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M2, huyện M, tỉnh Sóc Trăng và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 13/3/2012. Sau khi kết hôn, chị P và anh H sống chung tại ấp P, xã M2, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Trong thời gian sống chung, chị P và anh H có một con chung là cháu Nguyễn Văn K, sinh ngày 26/7/2010, hiện tại cháu K đang sống cùng anh H; về tài sản chung và nợ chung không có. Từ năm 2017, giữa chị P và anh H phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, làm cho cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên chị P và anh H không còn sống chung.
Nay chị P yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị P được ly hôn với anh H.
- Về con chung: Chị P đồng ý giao con chung là cháu Nguyễn Văn K, sinh ngày 26/7/2010 cho anh H nuôi dưỡng đến đủ 18 (mười tám) tuổi, chị P không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu giải quyết.
* Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn H: Kể từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không nộp văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị P, không đến Tòa án làm việc và tham gia tố tụng tại phiên tòa nên không có lời trình bày.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng phát biểu ý kiến việc tuân theo pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay là đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như phiên tòa sơ thẩm nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, là không thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của chị P, cho chị P ly hôn với anh H. Về con chung: giao con chung là cháu Nguyễn Văn K, sinh ngày 26/7/2010 cho anh H nuôi dưỡng đến đủ 18 (mười tám) tuổi, chị P không phải cấp dưỡng nuôi con; chị P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về tài sản chung và nợ chung, chị P và anh H không yêu cầu nên đề nghị không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng, nguyên đơn chị P khởi kiện anh H, cư trú tại ấp P, xã M2, huyện M, tỉnh Sóc Trăng để yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ hôn nhân và con chung, mà không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung, nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, các đương sự đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ, nhưng vắng mặt và nguyên đơn chị P có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn anh H vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân, chị P và anh H tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M2, huyện M, tỉnh Sóc Trăng và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 13/3/2012. Đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật thừa nhận. Theo khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn”. Như vậy, chị P yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh H là phù hợp quy định pháp luật.
Xét yêu cầu ly hôn của chị P, Hội đồng xét xử thấy rằng: sau khi kết hôn, chị P và anh H sống chung hạnh phúc với nhau được một khoảng thời gian thì chị P và anh H phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị P và anh H không cùng quan điểm sống, tính tình không còn hợp nhau, dẫn đến thường xuyên cãi nhau, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, không còn hạnh phúc nên chị P và anh H đã không còn sống chung và không còn quan tâm, chăm sóc nhau từ năm 2017 cho đến nay. Kể từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập hai bên hòa giải, động viên hàn gắn tình cảm, đoàn tụ với nhau, nhưng anh H không đến và chị P giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Như vậy, hôn nhân giữa chị P và anh H đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Theo khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”. Do vậy, yêu cầu ly hôn của chị P là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung, chị P và anh H có 01 (một) người con chung là cháu Nguyễn Văn K, sinh ngày 26/7/2010, hiện tại cháu K đang sống cùng anh H. Khi ly hôn, chị P đồng ý giao cháu K cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 (mười tám) tuổi. Xét thấy, theo khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định:“Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền, nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án giải quyết giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị P và anh H không có thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Mặc khác, từ khi chị P và anh H không còn sống chung với nhau, cháu K được anh H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến nay và qua tham khảo ý kiến của cháu K có nguyện vọng sống cùng với anh H. Do vậy, việc chị P đồng ý giao cháu K cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng đến khi đủ 18 (mười tám) tuổi là đảm bảo được quyền lợi về mọi mặt và không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của cháu K nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị P và quyết định giao cháu K cho anh H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu K đủ 18 (mười tám) tuổi. Chị P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng, theo khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh H không có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con nên được xem như không có yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị P là chị P không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung, chị P trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Chị P là nguyên đơn yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí dân sự trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng: khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81; khoản 2 và khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị P.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Võ Thị P ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Văn K, sinh ngày 26/7/2010 cho anh Nguyễn Văn H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu K đủ 18 (mười tám) tuổi.
Chị Võ Thị P không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị Võ Thị P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Võ Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- Án phí sơ thẩm: Chị Võ Thị P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002357 ngày 18/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Chị P đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Mỹ Tú; - Chi cục THADS huyện Mỹ Tú; - TAND tỉnh Sóc Trăng; - UBND xã M2, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Luân |