vanban.org

Bản án 45/2020/DSST — Tranh chấp quyền sử dụng đất

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 175 Bộ luật dân sự 2015;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy bA thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án có hiệu lực thi hành từ ngày 01.01.2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Ngô Quốc Tuấn"
  • Tòa quyết gì? Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 175 Bộ luật dân sự 2015;
  • Căn cứ chính? Luật Thi hành án dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TN
TỈNH TN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 45/2020/DSST
Ngày 25/12/2020
V/v: TrAh chấp Quyền sử dụng đất

NHÂN DAH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HÔI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN, TỈNH TN

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đồng Huy Hưởng

Các hội thẩm nhân dân: ông Trần Trọng Tú, ông Trần Quảng Thái

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: bà Hoàng Thị Hoài, cán bộ Tòa án

nhân dân thành phố TN.

Đại diện VKSNDTPTN: bà Đinh Thị H Lý, chức vụ Kiểm sát viên.

Ngày 25/12/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố TN, xét xử sơ

thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 61/2020/TLST- DS ngµy 20 th¸ng 5 n¨m 2020, Về việc "TrAh chấp Quyền sử dụng đất” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2020/QĐXXST-DS ngày 09/10/2020 giữa:

Nguyªn ®¬n: Ngô Quốc T, sinh năm 1971

(Có mặt tại phiên tòa)

§Þa chØ: Tổ 10, phường Cam Giá, thành Phố TN, tØnh Th¸i Nguyªn

BÞ ®¬n: Bà Nguyễn Linh H, sinh năm 1971

(Vắng mặt tại phiên tòa)

Địa chỉ: Tổ 10, phường Cam Giá, thành phố TN, tỉnh TN.

Người làm chứng: ông Lê Văn A, bà Nguyễn Thị T1

(Có mặt tại phiên tòa)

Địa chỉ: Tổ 8, phường Cam Giá, thành phố TN, tỉnh TN

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo ®¬n khëi kiÖn, b¶n tù khai, biªn b¶n hßa gi¶i vµ t¹i phiªn toµ s¬ thÈm ông Ngô Quốc T trình bày: Ngày 22/4/2007 UBND thành phố TN cấp thửa đất số: 417, tờ bản đồ số: 14, diện tích 152 m2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AĐ 592947 mAg tên hộ ông Ngô Quốc T, bà Nguyễn Thị Thu Hà. Nguồn gốc đất là do ông Lê Văn A, bà Nguyễn Thị T1 ở tổ 8, phường Cam Giá, thành phố TN chuyển nhượng cho gia đình tôi. Gia đình bà Nguyễn Linh H để búi tre lấn sAg thửa đất số: 417 này khoảng 10 m2 phía cạnh bờ suối. Việc này đã làm ảnh hưởng đến sản suất của gia đình tôi. Nay đề nghị gia đình bà H phải chặt búi tre đó trả lại diện tích đất cho gia đình tôi.

Bị đơn bà Nguyễn Linh H khai:

Năm 1985 gia đình tôi đã ra cạnh cầu Khu Nam vỡ hoAg một mảnh đất

làm nhà và trồng cây hoa màu. Năm 1986 bố tôi và em trai tôi đã trồng một búi tre nằm sát suối, không thuộc trên phần đất của ai. Hiện nay búi tre này có khoảng hơn 200 cây. Gia đình Ah T lại bảo búi tre đó nằm trên đất nhà Ah T đã mua của gia đình Ah chị Tiến, A. Vậy Ah T đòi đất và búi tre của gia đình tôi. Tôi không đồng ý vì đất đó từ trước đến nay là của gia đình tôi, khi Ah Tiến A bán đất cho nhà Ah T, Ah Tiến A bảo là búi tre đó không nằm trên đất nhà Ah cho nên Ah Tiến A mới không gọi gia đình nhà tôi ra. Sau khi tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án Tòa đã tiến hành cho các bên đương sự trình bày bản tự khai, tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá và đo đạc. Tòa tiến hành hòa giải nhưng phía bị đơn không đồng ý cho nên phải đưa ra xét xử công khai ngày hôm nay.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là buộc bà Nguyễn Linh H phải

khai thác búi tre lấn sAg 10,7 m2 tại thửa đất số: 417, tờ bản đồ số: 14, diện tích 152 m2 của gia đình ông để trả lại phần đất đã lấn chiếm.

Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt, vì vậy

HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN phát biểu ý kiến: Về

tố tụng: Quá trình tòa án thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, việc thu thập hồ sơ và giải quyết vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật;

Về nội dung: Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 146, 147, 158, 166, 227, 235,

271 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 175 Bộ luật dân sự 2015 đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải khai thác 150 cây tre và 02 cây me để trả lại 10,7 m2 đất tại thửa đất số: 417, tờ bản đồ số: 14 cho gia đình ông T và quyết định về án phí, quyền kháng cáo theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiªn cøu c¸c tµi liÖu cã trong hå s¬ vô ¸n vµ ® îc thÈm tra chøng

cø t¹i phiªn toµ vµ c¨n cø vµo kÕt qu¶ trAh tông t¹i phiªn toµ, Héi ®ång xÐt xö nhËn ®Þnh:

. Về tố tụng: Đây là vụ kiện trAh chấp về quyền sử dụng đất tại thửa đất

số: 417, tờ bản đồ số: 14, diện tích trAh chấp 10,7 m2 thuộc bản đồ địa chính phường Cam Giá, thành phố TN nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố TN theo quy định tại Điều 26; Điều 35; Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015.

. Về nội dung vụ án: Xét trAh chấp về quyền sử dụng đất tại thửa đất số:

417, tờ bản đồ số: 14, diện tích trAh chấp 10,7 m2 thấy rằng:

2.1. Về nguồn gốc đất:

- Gia đình ông Ngô Quốc T, bà Nguyễn Thị Thu Hà nhận chuyển nhượng

quyền sử dụng đất của ông Lê Văn A, bà Nguyễn Thị T1 ở tổ 8, phường Cam Giá, thành phố TN. Ngày 22/4/2007 UBND thành phố TN cấp thửa đất số: 417, tờ bản đồ số: 14, diện tích 152 m2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AĐ 592947. Quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không không có ai trAh chấp và khiếu kiện gì nên việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND thành phố TN cho ông Ngô Quốc T, bà Nguyễn Thị Thu Hà là hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ,

định giá tài sản và đo đạc. Kết quả cho thấy trên thực tế búi tre của gia đình bà Nguyễn Linh H có 150 cây và 02 cây me đã lấn sAg 10,7 m2 tại thửa đất số: 417, tờ bản đồ số: 14 của nhà ông T. Việc ông T yêu cầu bà Nguyễn Linh H phải khai thác búi tre để trả lại phần đất đã bị lấn chiếm là có căn cứ bởi:

Điều 175 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về rAh giới giữa các bất

động sản:

1. ...

2. Người sử dụng đất được sử dụng không giA và lòng đất theo chiều thẳng

đứng từ rAh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác.

Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn

viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo rAh giới đã được xác định; nếu rễ cây, cành cây vượt quá rAh giới thì phải xén rễ, cắt, tỉa cành phần vượt quá, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 175 của Bộ luật dân sự thì gia đình bà

Nguyễn Linh H có quyền trồng cây tại phần đất của nhà mình. Nhưng trên thực tế phần đất mà gia đình bà Nguyễn Linh H đã trồng tre, cây me là rìa bờ suối không được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay búi tre và cây me đã lấn sAg 10,7 m2 làm ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất của gia đình ông T nên cần buộc gia đình bà H phải khai thác búi tre và cây me trên để trả lại phần đất đã lấn chiếm cho gia đình ông T tại thửa đất số: 417, tờ bản đồ số: 14 theo sơ đồ: 1,2,3,4,5,6,7,8 có tứ cận là:

- Phía Đông giáp diện tích đất tại thửa 417 có chiều dài 3,52 m;

- Phía Bắc giáp diện tích đất tại thửa 417 có chiều dài là 3,85 m;

- Phía Tây giáp diện tích đất tại thửa 417 có chiều dài là 2,37 m;

- Phía Nam giáp bờ suối có chiều dài là 3,89 m.

Tài sản trên đất là: 150 cây tre có giá trị 1.350.000 đồng, 02 cây me có giá

trị 450.000 đồng. Tổng cộng là 1.800.000 đồng (Một triệu, tám trăn nghìn đồng); (Có sơ đồ kèm theo).

2.2. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; định giá tài sản

do nguyên đơn có đơn yêu cầu đã nộp số tiền 2.000.000 đồng. Nay được HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu số tiền chi phí tố tụng này. Bị đơn phải có trách nhiệm hoàn trả cho nguyên đơn số tiền này.

. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN chấp

nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải phải khai thác toàn bộ búi tre và 02 cây me (Tại thời điểm xem xét, thẩm định tại chỗ là150 cây tre và 02 cây me) để trả lại 10,7 m2 đất tại thửa đất số: 417, tờ bản đồ số: 14 cho gia đình ông T (Có sơ đồ kèm theo) là có căn cứ.

. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 146, 147, 158, 166, 227, 235, 271 Bộ luật

Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 175 Bộ luật dân sự 2015;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy

bA thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án có hiệu lực thi hành từ ngày 01.01.2017.

- Luật Thi hành án dân sự.

Tuyªn xö:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Văn T;

2. Buộc bà Nguyễn Linh H phải khai thác toàn bộ búi tre và 02 cây me

(Tại thời điểm xem xét, thẩm định tại chỗ là150 cây tre và 02 cây me) để trả lại 10,7 m2 đất tại thửa đất số: 417, tờ bản đồ số: 14 cho gia đình ông T (Có sơ đồ kèm theo). theo sơ đồ: 1,2,3,4,5,6,7,8 có tứ cận là:

- Phía Đông giáp diện tích đất tại thửa 417 có chiều dài 3,52 m;

- Phía Bắc giáp diện tích đất tại thửa 417 có chiều dài là 3,85 m;

- Phía Tây giáp diện tích đất tại thửa 417 có chiều dài là 2,37 m;

- Phía Nam giáp bờ suối có chiều dài là 3,89 m.

Tài sản trên đất là: 150 cây tre có giá trị 1.350.000 đồng, 02 cây me có giá

trị 450.000 đồng. Tổng cộng là 1.800.000 đồng (Một triệu, tám trăn nghìn đồng); (Có sơ đồ kèm theo).

3. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Nguyễn Linh H hoàn trả lại cho ông Ngô

Văn T 2.000.000 đồng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; định giá tài sản.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn

yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền trên (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về án phí: bà Nguyễn Linh H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn

đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước. Hoàn trả ông Ngô Quốc T 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiÒn t¹m øng ¸n phÝ đã nộp t¹i Chi côc Thi hµnh ¸n d©n sù thµnh phè Th¸i Nguyªn ngày 13 tháng 5 năm 2020 biên lai số: 0002987;

Tr êng hîp b¶n ¸n ® îc thi hµnh ¸n theo quy ®Þnh §iÒu 2 LuËt Thi hµnh

¸n d©n sù th× ng êi ® îc thi hµnh ¸n d©n sù, ng êi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tho¶ thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn yªu cÇu thi hµnh ¸n hoÆc bÞ c ìng chÕ thi hµnh ¸n theo c¸c §iÒu 6,7 vµ 9 LuËt Thi hµnh ¸n d©n sù; thêi hiÖu thi hµnh ¸n ® îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 30 LuËt thi hµnh ¸n.

Quyền kháng cáo: án xử công khai sơ thẩm, ® ¬ng sù cã mặt có quyÒn

kh¸ng c¸o bản án trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án./.

N¬i nhËn:

t.m héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm

- TAD tØnh TN;

ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ

- VKSND TPTN;

- THADS TPTN;

- § ¬ng sù;

- L u HS,BP./.

Đồng Huy Hưởng

Cỡ chữ