- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Quỹ Nhã N đòi nợ các đồng thừa kế của anh T"
- Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 1 Điều 12; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2020/DS-ST Ngày: 29-9-2020 V/v “Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN,TỈNH BẮC GIANG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
* Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân
* Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Kiểm
2. Ông Giáp Hồng Thanh
- Thư ký phiên toà: Bà Vi Thị Lan PH- Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bộ- Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2020 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 75/2019/TLST-DS ngày 19 tháng 7 năm 2020 về việc “Thực hiện ngĩa vụ do người chết để lại” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 221/2020/QĐXXST-DS ngày 04/9/2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 138/2020/QĐST-DS ngày 15/9/2020 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân Nhã Nam, Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: số 297, phố Tân Quang, thị trấn Nhã Nam, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
Do ông Nguyễn T T- Chức vụ: Chủ tịch HĐQT là đại diện theo pháp luật (có mặt).
Do bà Linh Thị N- Chức vụ: Trưởng ban kiểm soát là đại diện theo ủy quyền (có mặt).
* Đồng bị đơn:
- Chị Dương Thị S, sinh năm 1976 (vắng mặt)
- Cụ Phạm Thị T, sinh năm 1937 (vắng mặt)
- Cháu Đỗ Quang T, sinh năm 1996 (vắng mặt)
- Cháu Đỗ T H, sinh năm 2003 (vắng mặt)
Đều cư trú: Thôn chùa Nguộn, thị trấn Nhã Nam, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Bà Đặng Thị H, sinh năm 1955 (vắng mặt)
- Ông Dương Mạnh D, sinh năm 1953 (vắng mặt)
Đều cư trú: Thôn Tiến Phan 1, thị trấn Nhã Nam, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc
Giang.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bưu điện huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)
Địa chỉ: Phố Hoàng H Thám, thị trấn Cao Thượng, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Bảo hiểm xã hội huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: Phố Mới, thị trấn Cao thượng, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
Do ông Nguyễn Trọng Q- Phó giám đốc bảo hiểm xã hội huyện Tân Yên đại diện theo ủy quyền (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: Số 115, đường Hùng Vương, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố
Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
Do bà Nguyễn Thị Mai H- Giám đốc bảo hiểm xã hội huyện Tân Yên đại diện theo ủy quyền (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ghi ngày 08/7/2019 và bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản hòa giải nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Nhã Nam do ông Nguyễn T T đại diện theo pháp luật trình bày:
Ngày 04/7/2016 ông Đỗ Quang Thơm cùng vợ là bà Dương Thị S vay vốn tại Quỹ tín dụng nhân dân Nhã Nam số tiền 80.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 2016-2-00024/HĐTD ngày 04/7/2016, thời hạn vay 36 tháng, đến hạn ngày 04/7/2019, lãi suất 12%/năm tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng, mục đích vay tiền để sử dụng phục vụ đời sống, sửa chữa nhà ở, bảo đảm bằng quỹ lương nhận tại UBND xã Nhã Nam. Ông Thơm, bà S chưa trả số tiền lãi nào cho quỹ tín dụng. Theo Hợp đồng tín dụng số 2016-2-00024/HĐTD ngày 04/7/2016 thì đến ngày 04/7/2019 thì ông Đỗ Quang Thơm bà Dương Thị S có nghĩa vụ trả tiền gốc 80.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 19/7/2019 là 11.134.000 đồng. Tổng tiền gốc và tiền lãi đến ngày 19/7/2019 là 91.134.000 đồng.
Ngày 07/9/2018 anh Đỗ Quang Thơm chết đột ngột. Những người thừa kế của ông Thơm không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với số nợ trên. Nay Quỹ tín dụng nhân dân thị trấn Nhã Nam khởi kiện yêu cầu những người thừa kế của ông Thơm trả nợ cho Quỹ tín dụng gồm những người có tên sau: Bà Dương Thị S, sinh năm 1976; Bà Phạm Thị T, sinh năm 1937; Ông Đỗ Quang T, sinh năm 1996; Ông Đỗ T H, sinh năm 2003; Bà Đặng Thị H, sinh năm 1955; Ông Dương Mạnh D, sinh năm 1953, Đều trú tại: thôn Chùa Nguộn, xã Nhã Nam, huyện Tân Yên,tỉnh Bắc Giang.
Yêu cầu những người thừa kế của ông Thơm có tên trên thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ông Thơm đối với khoản nợ của Quỹ tín dụng nhân dân Nhã Nam, số tiền gốc là 80.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 19/7/2019 là 11.134.000 đồng. Tổng tiền gốc và tiền lãi tính đến ngày 19/7/2019 là 91.134.000 đồng.
Tại phiên tòa hôm nay, ông Nguyễn T T là đại diện theo pháp luật, bà Linh Thị Như đại diện theo ủy quyền có mặt trình bày:
Ông T, bà N là đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền của Quỹ tín dụng nhân dân Nhã Nam vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, ông bà yêu các đồng thừa kế của anh Thơm có trách nhiệm trả cho Quỹ tín dụng nhân dân Nhã Nam số tiền gốc là 80.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn theo hợp đồng tín dụng 12% từ ngày 04/6/2018 đến ngày 4/7/2019 là 10.533.000 đồng và Lãi quá hạn theo hợp đồng tín dụng 18% từ ngày 4/9/2019 đến ngày 29/9/2020 là 18.120.000 đồng. Tổng cả gốc và lãi là 108.653.000 đồng trong đó tiền gốc là 80.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 10.533.000 đồng, lãi quá hạn là 18.120.000 đồng và xử lý tiền chi trả tiền bảo hiểm cho anh Thơm, tài sản anh Thơm được hưởng do chị Dương Thị S cụ Phạm Thị T, anh Đỗ Quang T, anh Đỗ T H là những người thừa kế đang quản lý, sử dụng được hưởng để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Quỹ tín dụng nhân dân Nhã Nam.
* Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án, thông báo về việc thu thập được tài liệu, chứng cứ, quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ, hòa giải cho các đồng bị đơn chị Dương Thị S, cụ Phạm Thị T, cháu Đỗ Quang T, cháu Đỗ T H, bà Đặng Thị H, ông Dương Mạnh D nhưng các đương sự đều không đến làm việc ,vắng mặt và không có ý kiến gì về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ yêu cầu của Quỹ tín dụng nhân dân Nhã Nam cho anh Thơm. Tại phiên tòa hôm nay những người trên đều vắng mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đại diện Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Giang có ý kiến:
Ông Đỗ Quang Thơm, sinh ngày 07/4/1973, số sổ BHXH 8400000539 có tổng thời gian tham gia bảo hiểm xã hội bát buộc từ tháng 01/1999 đến tháng 8/2018 là 18 năm 01 tháng, chết ngày 07/9/2018. Ngày 30/11/2018, gia đình anh Thơm lập tờ khai của thân nhân theo mẫu 09A-HSB do chị Dương Thị S là vợ của anh Đỗ Quang Thơm kê khai có xác nhận của chính quyền địa pH nơi cư trú UBND xã Nhã Nam, huyện Tân Yên.
Căn cứ hồ sơ, tờ khai đề ghị giải quyết chế độ tuất cho gia đình anh Thơm, đối cH với các quy định tại Điều 66, Điều 67 Luật bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 và khoản 2, khoản 4 Điều 12 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP, Bảo hiểm xã hội tỉnh đã giải quyết chế độ tử tuất cho các thân nhân của ông Đỗ Quang Thơm như sau:
- Trợ cấp mai táng phí: chị Dương Thị S được nhận trợ cấp mai táng phí là là 13.900.000 đồng, nơi nhận trợ cấp bưu điện huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Trợ cấp tuất hàng tháng gồm 4 định xuất cụ thể:
+ Cháu Nguyễn T H (con trai anh Thơm), sinh ngày 05/01/2003, được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng là 695.000 đồng/tháng, kể từ tháng 10/2018, nơi nhận trợ cấp xã Nhã Nam, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
+ Cụ Phạm Thị T (mẹ đẻ anh Thơm), sinh ngày 10/10/1937, được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng là 695.000 đồng/tháng, kể từ tháng 10/2018, nơi nhận trợ cấp xã Nhã Nam, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
+ Ông Dương Mạnh D (bố vợ anh Thơm), sinh ngày 20/01/1953, được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng là 695.000 đồng/tháng, kể từ tháng 10/2018, nơi nhận trợ cấp xã Nhã Nam, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
+ Bà Đặng Thị H (mẹ vợ anh Thơm), sinh ngày 01/01/1955, được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng là 695.000 đồng/tháng, kể từ tháng 10/2018, nơi nhận trợ cấp xã Nhã Nam, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
Bảo hiểm xã hội tỉnh đã thực hiện việc chi trả trợ cấp mai táng phí và trợ cấp tuất hàng tháng cho các thân nhân của ông Thơm đến hết tháng 02/2019. Như vậy bảo hiểm xã hội tỉnh thực hiện giải quyết chế độ tử tuất cho các thân nhân của anh Đỗ Quang Thơm theo đúng quy định. Đề nghị Tòa án xẽm ét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện bảo hiểm xã hội tỉnh vắng mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đại diện Bảo hiểm xã hội huyện Tân Yên ông Nguyễn Trọng Q có ý kiến:
Anh Đỗ Quang Thơm là cán bộ văn phòng thống kê của UBND xã Nhã Nam nên thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo đó UBND xã Nhã Nam và anh Thơm đều tham gia đóng bảo hiểm xã hội hàng tháng theo đúng quy định tính đến thời điểm tháng 8/2018 thì anh Thơm đã tham gia bảo hiểm xã hội được 18 năm 01 tháng . Đến ngày 07/9/2018 anh Thơm chết, do đó bảo hiểm xã hội thực hiện chi trả theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội. Ngày 30/11/2018 thân nhân của anh Thơm nộp hồ sơ đề nghị hưởng chế độ theo luật bảo hiểm. Anh Thơm được hưởng các khoản tiền bảo hiểm gồm: trợ cấp mai táng phí số tiền là 13.900.000 đồng, tiền hưởng trợ cấp tuất hàng tháng đối với 4 thân nhân là bà Đặng Thị H, ông Dương Mạnh D, cháu Đỗ T H, cụ Phạm Thị T với số tiền 695.000 đồng/01 suất/01 tháng kể từ tháng 10/2018, đối với bố mẹ vợ, mẹ đẻ là đến khi chết, còn đối với con là đủ 18 tuổi.
Còn tiền trợ cấp tiền mai táng phí được thực hiện chi trả 01 lần cho chị Dương Thị S là vợ anh Thơm nhận. Hiện bảo hiểm xã hội đã chuyển các quyết định về việc hưởng trợ cấp tuất hàng tháng của 4 thân nhân nhận và Quyết định về việc hưởng trợ cấp mai táng của anh Thơm được bàn giao cho Bưu điện huyện Tân Yên thực hiện chi trả theo quy định.
Tại phiên tòa hôm nay ông Nguyễn Trọng Q đã có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đại diện Bưu điện huyện Tân Yên có ý kiến:
Bưu điện huyện Tân Yên có nhận được công văn của Tòa án đề nghị cử người tham gia tố tụng và trình bày ý kiến nội dung vụ việc, Bưu điện huyện Tân Yên có ý kiến: Bưu điện tỉnh Bắc Giang và Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Giang có ký hợp đồng thỏa thuận về việc chi trả các chế độ cho các đối tượng thông qua hệ thống Bưu điện, Bưu điện huyện Tân Yên thực hiện hợp đồng thực hiện chi trả trực tiếp cho các đối tượng thụ hưởng sau khi có quyết định giải quyết chế độ và tiền của Bảo hiểm xã hội chuyển sang. Vì vậy, Bưu điện huyện Tân Yên chỉ thực hiện làm đại lý chi trả cho Bảo hiểm xã hội theo đúng quy định trong hợp đồng, Bưu điện huyện Tân Yên cũng không có đại diện tham gia tố tụng tại Tòa án.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Bưu điện huyện Tân Yên vắng mặt.
* Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử là đảm bảo theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa nguyên đơn ông T thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật; Đồng Bị đơn; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị áp dụng các quy định của pháp luật để Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân Nhã Nam do ông Nguyễn T T đại diện theo pháp luật; Buộc chị S, cụ T, cháu T, cháu H phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Quỹ tín dụng Nhã Nam số tiền 80.000.000 đồng tiền nợ gốc và 28.653.000 đồng tiền lãi.
Về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Vụ án Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại giữa Quỹ tín dụng nhân dân Nhã Nam và chị Dương Thị S và các đồng thừa kế khác thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Tân Yên thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Đồng Bị đơn, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 229 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt những người trên.
Về quan hệ pháp luật: Quỹ tín dụng nhân dân Nhã Nam có đơn khởi kiện yêu cầu các đồng thừa kế của anh Thơm có trách nhiệm trả cho Quỹ tín dụng nhân dân Nhã Nam số tiền gốc là 80.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn 12%/năm và lãi quá hạn 18%/năm được xác định là quan hệ tranh chấp “Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại" theo Điều 615 của Bộ luật dân sự.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Nhã Nam do ông Nguyễn T T đại diện theo pháp luật, Hội đồng xét xử thấy:
* Về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại:
Ngày 04/7/2016 anh Đỗ Quang Thơm vay vốn tại Quỹ tín dụng nhân dân Nhã Nam số tiền 80.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số: 2016-2-00024/HDDTD, thời hạn vay 36 tháng đến hạn là 04/7/2019, lãi suất 12%/năm, mục đích sử dụng tiền vay là phục vụ đời sống, sửa chữa nhà ở, bảo đảm bằng quỹ lương nhận tại UBND xã Nhã Nam. Hợp đồng tín dụng này có chữ ký vào mục “ Đại diện bên B (bên vay)- Thơm, Đỗ Quang Thơm, S- Dương Thị S”, ông T là người đại diện của Quỹ tín dụng Nhã Nam khẳng định chữ ký, chữ viết trên là của anh Thơm, chị S.
Sau khi vay khoản tiền trên của Quỹ tín dụng nhân dân Nhã Nam thì anh Thơm đã trả lãi cho Quỹ đến ngày 04/6/2018. Vào ngày 07/9/2018 ông Thơm chết đột ngột. Các hàng thừa kế của ông Thơm không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Quỹ tín dụng nhân dân Nhã Nam.
Mặc dù trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị đơn đều vắng mặt nên Tòa án không lấy được lời khai của chị Dương Thị S, cụ Phạm Thị T, cháu Đỗ Quang T, cháu Đỗ T H và những người trên cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ gì cho Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích của mình nên Hội đồng xét xử dựa vào tài liệu, chứng cứ mà Tòa án đã thu thập được có trong hồ sơ, thấy rằng:
Tại biên bản lấy lời khai, xác minh đối với những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án như Bưu điện huyện Tân Yên, Bảo hiểm xã hội huyện Tân Yên, Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Giang đều xác định: Anh Đỗ Quang Thơm là cán bộ văn phòng thống kê của UBND xã Nhã Nam nên thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo đó UBND xã Nhã Nam và anh Thơm đều tham gia đóng bảo hiểm xã hội hàng tháng theo đúng quy định tính đến thời điểm tháng 8/2018 thì anh Thơm đã tham gia bảo hiểm xã hội được 18 năm 01 tháng . Đến ngày 07/9/2018 anh Thơm chết, do đó bảo hiểm xã hội thực hiện chi trả theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội. Ngày 30/11/2018 thân nhân của anh Thơm nộp hồ sơ đề nghị hưởng chế độ theo luật bảo hiểm. Anh Thơm được hưởng các khoản tiền bảo hiểm gồm: trợ cấp mai táng phí số tiền là 13.900.000 đồng, tiền hưởng trợ cấp tuất hàng tháng đối với 4 thân nhân là bà Đặng Thị H, ông Dương Mạnh D, cháu Đỗ T H, cụ Phạm Thị T với số tiền 695.000 đồng/01 suất/01 tháng kể từ tháng 10/2018, đối với bố mẹ vợ, mẹ đẻ là đến khi chết, còn đối với con là đủ 18 tuổi.
Như vậy, xác định khi anh Thơm chết các đồng thừa kế của anh Thơm được hưởng số tiền mai táng phí của anh Thơm do chị Dương Thị S nhận là 13.900.000 đồng. Như vậy, các đồng thừa kế đã nhận số tiền trên và đã không từ trối nhận di sản của anh Thơm nên cần buộc các đồng thừa kế được hưởng phải trả cho Quỹ tín dụng Nhã Nam số tiền này vào khoản nợ đã vay của anh Thơm.
Tại biên bản xác minh với UBND thị trấn Nhã Nam cho thấy: Anh Đỗ Quang Thơm không được công nhận quyền sử dụng đất riêng mà chỉ có quyền sử dụng đất chung trong hộ gia đình cụ Đỗ Quang Huy là bố đẻ anh Thơm cụ thể: Theo quyết định số 100/QĐ-UB ngày 17/11/2003 của Chủ tịch UBND huyện Tân Yên về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, đất vườn cho các chủ sử dụng đất xã Nhã Nam (nay là thị trấn Nhã Nam) thì hộ cụ Đỗ Quang Huy ở thôn Chùa Nguộn, xã Nhã nam được cấp GCNQSD đất tại thửa số 115, tờ bản đồ số 10, diện tích 834,1m2 gồm 360m2 đất ở và 471,1m2 đất vườn. Tại thời điểm cấp GCNQSD đất trên thì hộ cụ Đỗ Quang Huy gồm có: Cụ Huy, cụ Phạm Thị T, anh Đỗ Quang Thơm, chị Dương Thị S, cháu Đỗ Quang T, cháu Đỗ T H. Như vậy, xác định tại thời điểm cấp GCNQSD đất năm 2003 thì hộ gia đình cụ Huy gồm có tên 6 người trên đều được hưởng quyền sử dụng đất như nhau. Hiện tại đang sinh sống và quyền quản lý sử dụng trên đất trên gồm có cụ T, chị S, cháu T, cháu H.
Từ những tài liệu, chứng cứ và phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để xác định anh Đỗ Quang Thơm chết có để lại di sản là quyền sử dụng đất tại thửa đất trên và di sản này chưa được chia. Như vậy, khi khoản nợ của anh Thơm đến hạn 04/7/2019, nhưng chị Dương Thị S và các đồng thừa kế của anh Thơm là cụ T, cháu T, cháu H là người thừa kế quyền, nghĩa vụ đối với tài sản do anh Thơm để lại, đã không thực hiện việc trả nợ cho Quỹ tín dụng nhân dân Nhã Nam, là xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Nhã Nam do ông T đại diện về việc yêu cầu các bị đơn có trách nhiệm trả cho Quỹ tín dụng nhân dân Nhã Nam số tiền gốc là 80.000.000 đồng và tiền lãi 12%/năm tính từ ngày 04/6/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm 29/9/2020 là có căn cứ để chấp nhận.
Thứ nhất, Xét tại thời điểm cấp GCNQSD đất thì thửa số 115, tờ bản đồ số 10, diện tích 834,1m2 gồm 360m2 đất ở và 471,1m2 đất vườn hiện trạng thửa đất. Nhưng theo trích đo hiện trạng thửa đất trên hiện nay chỉ có 588,8m2 trong đó 360m2 đất ở và 228,8m2 đất vườn, giá đất ở hiện tại theo hội đồng định giá ngày 25/8/2020 là 1.500.000 đồng/m2, giá đất vườn 42.000.000 đồng/m2. Như vậy, xác định thửa đất theo hiện trạng làm 6 kỷ phần cho các đồng thừa kế, cụ thể mỗi người sẽ được hưởng quyền sử dụng đất được chia đều là:
60m2 đất ở x 1.500.000 đồng/m2 = 90.000.000 đồng.
38,13m2 đất vườn x 42.000 đồng/m2 = 16.015.000 đồng.
Tổng là: 106.000.000 đồng.
Thứ hai, Xét đối với các tài sản gắn liền trên đất theo biên bản định giá ngày 25/8/2020 gồm các tài sản sau:
- Nhà ở cấp 4 loại 2: 75 m2 x 2.430.000 đồng/m2 x 60 % = 109.350.000 đồng.
- Nhà bếp loại B: 29, 62 m2 x 920.000 đồng/m2 x 70 % = 19.075.000 đồng.
- Công trình chăn nuôi loại C: 31,98 m2 x 350.000 đồng/m2 x 50 % = 5.596.000 đồng.
- Nhà tắm, nhà vệ sinh: 11,64 m2 x 3.748.000 đồng/m2 x 80 % = 35.149.000 đồng.
- Sân gạch: 112,95 m2 x 120.000 đồng/m2 x 80 % = 10.843.000 đồng.
- Tường bao quanh đất:
+ Tường gạch giáp đường thôn và sau nhà: 78 m2 x 380.000 đồng/m2 x 40% = 11.856.000 đồng.
+ Tường gạch giáp đất ông Thịnh: 27,43 m2 x 380.000 đồng/m2 x 20% = 2.084.000 đồng.
+ Tường gạch trước của nhà bếp: 2,94 m2 x 380.000 đồng/m2 x 40% = 670.000 đồng.
- Sân bê tông lối ra cổng + sân bê tông trước nhà vệ sinh: 65,76 m2 x 100.000 đồng/m2 x 60 % = 3.945.000 đồng.
- 02 Trụ cổng: 0,93 m3 x 1.130.000 đồng/m3 x 60% = 630.000 đồng.
- 02 cánh cổng sắt: 5,06 m2 x 920.000 đồng/m2 x 60% = 2.793.000 đồng.
- 05 cây cau cảnh: 318.000 đồng x 5 = 1.590.000 đồng
- 26 cây đinh lăng: 15.000 đồng x 26 = 390.000 đồng.
- 02 cây nhãn đường kính tán trên 5m: 02 cây x 1.790.000 đồng = 3.580.000 đồng.
- 01 khóm chuối: 86.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản gắn liền trên đất là 207.637.000 đồng, phần này chia đều cho 6 kỷ phần, cụ thể mỗi ký phần sẽ là: 207.637.000 đồng : 6 = 34.606.000 đồng.
Như vậy, anh thơm chết có để lại di sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất cho các đồng thừa kế là: 106.000.000 đồng + 34.606.000 đồng = 140.606.000 đồng.
* Về nghĩa vụ phải trả và số tiền phải trả:
- Theo hợp đồng tín dụng ký kết giữa anh Thơm và Quỹ tín dụng nhân dân Nhã Nam thì anh Thơm vay 80.000.000 đồng.
- Số tiền lãi trong hạn và quá hạn Quỹ Nhã Nam yêu cầu phải trả từ ngày 04/6/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm 29/9/2020 là 12%, 18 % là theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Cụ thể lãi được tính như sau:
Lãi trong hạn từ 04/6/2018 đến 4/7/2019 là 12%/năm: 10.533.000 đồng
Lãi quá hạn từ 04/7/2019 đến 29/9/2020 là 18%/năm: 18.120.000 đồng
Tổng lãi trong hạn và quá hạn là 28.653.000 đồng
Như vậy, tổng số tiền cả gốc và lãi mà các đồng thừa kế của anh Thơm phải trả cho Quỹ Nhã Nam là: 80.000.000 đồng + 28.653.000 đồng = 108.653.000 đồng.
* Xét về thực tế giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất mà anh Thơm được hưởng để lại cho các đồng thừa kế là:
Giá trị đất được hưởng: 106.000.000 đồng
Giá trị tài sản gắn liền trên đất được hưởng là 34.606.000 đồng.
Tổng giá trị di sản của anh Thơm là: 140.606.000 đồng.
Như vậy, theo quy định của pháp luật dân sự tại Điều 614, Điều 615 thì chế độ trách nhiệm tài sản của cá nhân là vô hạn, tức là không mặc nhiên chấm dứt khi họ chết, theo đó nghĩa vụ khi một người chết đi sẽ được chuyển tiếp cho người thừa kế của người đó trong phạm vi di sản để lại.
Trong trường hợp này, di sản của anh Thơm để lại sẽ được sử dụng để thực hiện nghĩa vụ mà anh Thơm chưa thực hiện khi còn sống, nghĩa vụ tài sản của anh Thơm để lại nợ Quỹ Nhã Nam là 80.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi là 28.653.000 đồng là không vượt quá phần tài sản mà các đồng thừa kế được hưởng di sản của anh Thơm 140.606.000 đồng. Do vậy, các đồng thừa kế của anh Thơm là chị S, cụ T, cháu T, cháu H là chủ thể được hưởng di sản thừa kế và không từ trối nhận di sản thừa kế của anh Thơm nên đều phải có nghĩa vụ liên đới phải thực hiện nghĩa vụ do anh Thơm để lại.
Do vậy, cần phải buộc chị S, cụ T, cháu T, cháu H có nghĩa vụ liên đới trả cho quỹ Nhã Nam tổng số tiền là 108.653.000 đồng trong đó tiền gốc là 80.000.000 đồng và tiền lãi là 28.653.000 đồng.
Về lãi suất phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: Do tại phiên tòa chị Dương Thị S, cụ Phạm Thị T, cháu Đỗ Quang T, cháu Đỗ T H vắng mặt nên không thỏa thuận được lãi suất chậm thi hành án, lãi suất chậm trả được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Về án phí:
Do yêu cầu của Quỹ tín dụng nhân dân Nhã Nam được chấp nhận nên chị Dương Thị S, cụ Phạm Thị T, cháu Đỗ Quang T, cháu Đỗ T H phải có nghĩa vụ liên đới chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Cụ T là ngườ cao tuổi được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Số tiền án phí nên chị Dương Thị S, cụ Phạm Thị T, cháu Đỗ Quang T, cháu Đỗ T H phải chịu là: 108.653.000 đồng x 5% = 5.433.000 đồng. Nhưng cụ T thuộc diện người cao tuổi được miễn án phí theo quy định pháp luật. Chị S, cháu T, cháu H mỗi người phải chịu là 1.358.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả Quỹ tín dụng nhân dân Nhã Nam số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26; Điều 35; Điều 68; Điều 92; khoản 3 Điều 144; Điều 147; Điều 157; Điều 158; Điều 165; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 229; Điều 235; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 288; Điều 463; Điều 466; khoản 2 Điều 468; Điều 470; Điều 612, Điều 613, Điều 614, Điều 615 của Bộ luật dân sự;
Khoản 2 Điều 4 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Điểm đ khoản 1 Điều 12; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
[1] Về nghĩa vụ trả nợ:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân Nhã Nam do ông Nguyễn T T đại diện theo pháp luật. Buộc chị Dương Thị S, cụ Phạm Thị T, cháu Đỗ Quang T, cháu Đỗ T H là người thừa kế quyền và nghĩa vụ của anh Đỗ Quang Thơm phải liên đới thực hiện nghĩa vụ trả cho Quỹ tín dụng nhân dân Nhã Nam tổng số tiền là 108.653.000 đồng. Trong đó số tiền gốc là 80.000.000 đồng và số tiền lãi là 28.653.000 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
[2] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
Chị Dương Thị S, cụ Phạm Thị T, cháu Đỗ Quang T, cháu Đỗ T H phải liên đới chịu số tiền 5.600.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Xác nhận Quỹ tín dụng nhân dân Nhã Nam đã nộp đủ số tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Chị Dương Thị S, cụ Phạm Thị T, cháu Đỗ Quang T, cháu Đỗ T H phải liên đới hoàn trả cho Quỹ tín dụng nhân dân Nhã Nam số tiền 5.600.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền được trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
[3] Án phí:
Chị Dương Thị S, cháu Đỗ Quang T, cháu Đỗ T H mỗi người phải chịu 1.358.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Cụ Phạm Thị T được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Hoàn trả Quỹ tín dụng nhân dân Nhã Nam (do bà Linh Thị N nộp thay) số tiền 2.247.000 đồng (Hai triệu hai trăm bốn bẩy nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số AA/2018/0005864 ngày 19 tháng 7 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên.
[3] Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cường chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Tân Yên; - Chi cục THADS huyện Tân Yên; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Vân |