- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về áp dụng điều luật: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm c khoản 1 Điều 47, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21, điểm …
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2019/HS-ST Ngày:10/9/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Cường.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lương Văn Sơn và ông Nguyễn Khắc Hải.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Đức Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát viên nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Lê Anh Tuấn-Kiểm sát viên.
Vào hồi 14 giờ 10 phút, ngày 10 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 44/2019/HSST, ngày 15 tháng 8 năm 2019; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2019/QĐXXST-HS, ngày 28/8/2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn C; Tên gọi khác: Cu L; Sinh ngày: 05/11/1998; tại thị xã T, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Khối 5, phường L, thị xã T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: lái xe; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn C1 và bà Trần Thị L1; Có vợ Phan Thị N và 01 con (sinh năm 2019); anh chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là con đầu; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/5/2019, đến ngày 24/5/2019 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay. Có mặt.
- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Ngọc Đ; sinh năm: 1985. Nơi cư trú: Xóm K, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ năm 2015 Phạm Văn C sang Lào để làm ăn và lái xe thuê. Quá trình lái xe ở Lào, C có quen biết một người đàn ông Lào cùng làm nghề lái xe với C nhưng không rõ tên, địa chỉ. C và người đàn ông này đã vài lần sử dụng ma túy loại hồng phiến để tỉnh ngủ khi lái xe vào ban đêm. Vào trưa ngày 18/5/2019 khi Phạm Văn C đang đứng bên đường thuộc bản Bắc Hang, huyện Mường Phương, tỉnh Viêng Chăn, Lào để chờ bắt xe đi về Việt Nam thì gặp người đàn ông này. Người này dừng lại và nói chuyện với C. Tại đây, C đã mua của người đàn ông này 30 viên hồng phiến với giá 300.000 kíp Lào. Sau khi trả tiền xong C đã cất dấu số hồng phiến nói trên vào trong túi xách màu tím của mình. Tiếp đó, C đi ra bến xe Viêng Chăn rồi bắt xe ô tô khách mang biển kiểm soát 37B – 020B để đi về Việt Nam. Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 19/5/2019 đến khu vực cửa khẩu Quốc Tế C thuộc địa phận xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Tại đây lực lượng chức năng đã tiến hành kiểm tra chiếc túi xách màu tím mà C đang mang trên người thì phát hiện thấy bên trong túi có chứa 30 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY. Phạm Văn C khai nhận đó là hồng phiến do C mua ở Lào rồi cất dấu trong túi xách để sử dụng. Lực lượng chức năng đã tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và thu giữ số hồng phiến nói trên.
Tại bản thông báo kết luận giám định số:101/GĐMT-PC09, ngày 21/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh, kết luận: 30 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY gửi đến giám định là ma túy, có tổng khối lượng 2,9920 gam là Methamphetamine.
Vật chứng vụ án : 2,9920 gam Methamphetamine, sau khi lấy mẫu giám định còn 2,6948 gam; 01 cuốn hộ chiếu số B92159B mang tên Phạm Văn C do Cục quản lý xuất nhập cảnh cấp ngày 10/6/2014; 01 chiếc túi xách màu tím đã qua sử dụng. Các vật chứng nói trên đã chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện H.
Tại bản cáo trạng số 46/CT-VKS-HS, ngày 14 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Phạm Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo mức án từ 24 đến 30 tháng tù.
Vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS để:
- Tịch thu, tiêu hủy 2,9920 gam Methamphetamine, sau khi lấy mẫu giám định còn 2,6948 gam; 01 chiếc túi xách màu tím đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo Phạm Văn C 01 cuốn hộ chiếu số B92159B mang tên Phạm Văn C do Cục quản lý xuất nhập cảnh cấp ngày 10/6/2014.
Bị cáo Phạm Văn C thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Viện kiểm sát nhân dân huyện H quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Phạm Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ; phù hợp với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Vì vậy có đủ cơ sở khẳng định Phạm Văn C mua 2,9920 gam Methamphetamine cất dấu trong túy xách mang trên người nhằm mục đích để sử dụng đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Việc truy tố và xét xử theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, không oan sai.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý. Methamphetamine là chất gây nghiện nằm trong danh mục II, STT 323 Nghị định số 73, ngày 15/5/2018 của Chính phủ, khi con người sử dụng sẽ đe dọa nghiêm trọng đến sức khoẻ và sự phát triển lành mạnh của nòi giống con người. Bị cáo biết được điều đó nhưng vì để thỏa mạn cơn nghiện cho bản thân mà đã bất chấp pháp luật. Hành vi đó thể hiện sự táo bạo và liều lĩnh, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và gây hoang mang lo lắng cho mọi người nên cần xử bị cáo một mức án nghiêm để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ông nội của bị cáo được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất, bà nội bị cáo được Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ an tặng Bằng khen vì có thành tích trong cuộc kháng chiến nên cần căn cứ điểm s khoản1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ cho bị cáo một phần.
Trong vụ án này, theo lời khai của Phạm Văn C còn có người đàn ông bán ma túy cho C nhưng quá trình điều tra cơ quan chức năng không có căn cứ để xác minh nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên miễn phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng vụ án:
- 2,6948 gamMethamphetamine; 01 chiếc túi xách màu tím đã qua sử dụng là các vật nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và không còn giá trị nên cần áp dụng các điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, các điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu, tiêu hủy.
- 01 cuốn hộ chiếu số B92159B mang tên Phạm Văn C do Cục quản lý xuất nhập cảnh cấp ngày 10/6/2014 giấy tờ tùy thân bị cáo dùng để đi làm thuê bên Lào, là vật không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại cho bị cáo là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Quan điểm xử lý vụ án của Đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Tuy nhiên cần xem xét tính chất mức độ hành vi, các tình tiết giảm nhẹ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Về áp dụng điều luật: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm c khoản 1 Điều 47, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
2. Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Phạm Văn C 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 19/5/2019).
3.Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 2,6948 gamMethamphetamine được niêm phong trong 01 phong bì có chử ký của các thành viên tham gia niêm phong; 01 chiếc túi xách màu tím đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo Phạm Văn C 01 cuốn hộ chiếu số B92159 mang tên Phạm Văn C do Cục quản lý xuất nhập cảnh cấp ngày 10/6/2014.
(Đặc điểm các vật chứng nói trên như biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/8/2019).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Văn C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND huyện H; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Công an huyện H; - Cơ quan THHS Công an H; - Công an tỉnh (phòng PV 06) - Chi cục THADS huyện H; - Bị cáo; - UBND phường L, thị xã T; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Mạnh Cường |