- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Mai Chí C, Lê Văn Đ, Nguyễn Văn H, Trần Văn T, Trần Văn H, Nguyễn Cảnh D, Phạm Viết Th, Nguyễn Cảnh H và Nguyễn Văn Qu phạm tội "Đánh bạc".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2019/HS-ST Ngày 30-5-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đ Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Trần Văn Luyện.
2. Ông: Lê Văn Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Đạt, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến D - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2019 Tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2019/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2019/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2019 đối với các bị cáo:
1. Mai Chí C
, sinh ngày 16 tháng 02 năm 1987. Nơi cư trú:
; Nghề nghiệp: Lao động tự do;
: Kinh; Giới tính: Nam;
: Không
; Con ông Mai Văn Sỹ,
Trần Thị H, sinh năm: 1947; Vợ: Chu Thị Hà, sinh năm 1988;
02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2018. Tiền án: - Ngày 29/6/2017 bị Toà án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xử phạt 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng về tội "Đánh bạc". Chấp
: Không; Nhân thân: - Ngày 05/3/2007, bị Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 5.000.000 đồng về tội " Đánh bạc";
03/0
bị
; Có mặt tại phiên toà
2.Lê Văn Đ, sinh ngày 01 tháng 11 năm 197
: Làm ruộng;
: 7/12; Dân t : Kinh; Giới tính: Nam;
;
); Vợ Nguyễn Thị Nga, sinh năm 1978;
: Không; Nhân thân: Ngày 25/9/2003 bị Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm xử phạt 6 tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích". Chấp hành án xong ngày 19/5/2005; Ngày 13/9/2007 bị Toà án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng
03/
đang bị
; Có mặt tại phiên toà.
3. Nguyễn Văn H, sinh ngày 01 tháng 9 năm 1977
;
: Làm ruộng;
: 7/12
: Kinh; Giới tính: Nam
; Con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1948
: Nguyễn Thị Hải, sinh năm 1950; Vợ: Nguyễn Thị Thanh, sinh năm 1978,
04 con,
2007;
: Không;
26/01/201
đang bị
; Có mặt tại phiên toà
4. Trần Văn H, sinh ngày 20 tháng 12 năm 1974;
: Làm ruộng;
: 7/1
: Không;
; Con ông Trần Văn Kiệm (Chết);
: Nguyễn Thị Huệ, sinh năm 1950; Vợ : Lê Thị T, sinh năm 1977;
2006; Tiền án,
: Không;
áo
26/01/201
đang bị
; Có mặt tại phiên toà.
5. Trần Văn T, sinh ngày 13 tháng 5 năm 1969
: 07/10;
: Kinh; Giới tính: Nam
; Con ông: Trần Văn Thảo, sinh năm 1932
Nguyễn Thị Thanh, sinh năm 1934; Vợ: Trần Thị Nguyệt, sinh năm 1972;
2008;
: Không; cáo
01/02/2019
đang bị
. Có mặt tại phiên toà.
6. Nguyễn Cảnh D, sinh ngày 24 tháng 8 năm 1994
; do;
: Kinh; Giới tính:
; Con ông Nguyễn Cảnh Hùng, sinh năm: 1970
:
, sinh năm: 1974; Vợ: Trần Thị Chi, sinh năm: 1996;
01 con, sinh năm 2018;
: Không;
áo
28/01/201
đang bị
; Có mặt tại phiên toà;
7. Phạm Viết Th, sinh ngày 06 ngày 12 năm 1977;
An;
: Làm ruộng;
: 7/12;
: Kinh; Giới tính: Nam;
; Con ông: Phạm Viết Tạo (Chết)
:
Mai sinh năm 1949; Vợ: Đậu Thị Hậu, sinh năm 1982; Con: Có 2 con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2007;
: Không;
áo
28/01/201
đang bị
; Có mặt tại phiên toà.
8. Nguyễn Cảnh H, sinh ngày 27 ngày 11 năm 1983;
;
: Làm ruộng;
: 12/12;
; Con ông: Nguyễn Cảnh Ninh; sinh năm 1940
: Nguyễn Thị Hợp, sinh năm 1938; Vợ:
H, sinh năm 1986; 03
2019;
: Không; cáo
28/01/20
đang bị
; Có mặt tại phiên toà.
9. Nguyễn Văn Qu, sinh ngày 01 tháng 8 năm 1976
do;
: 6/12;
; Con ông Nguyễn Văn Tuyền (Chết)
: Nguyễn Thị Hà, sinh năm 1945; Vợ, con: Chưa;
: Không;
áo
28/01/201
đang bị
; Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
26 th
01 năm 2019, Lê Văn Đ
; Phạm Viết Th
; Trần Văn T
H
; Nguyễn Văn Qu
; Nguyễn Cảnh D
; Mai Chí C
ắ
; Nguyễn Cảnh H
, huyện Đô Lương; sau khi ăn cưới tại nhà người quen, tất cả đi sang nhà Nguyễn Văn H, sinh năm 1977, trú quán xóm 5, xã Tràng Sơn, huyện Đô Lương để chơi. Tại đây, Đ, Th; T; H; Qu; D; C; H và H
” nghĩa là dùng bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài và chọn lấy 36 quân bài từ A đến quân bài 9, người cầm chương chia cho mỗi người 3 quân bài rồi so điểm, nếu người nào thấp điểm hơn người cầm chương thì phải trả số tiền cho người cầm chương bằng số tiền đã đặt cược (Quy định thấp nhất là 10.000 đồng, cao nhất là 100.000 đồng) và ngược lại nếu cao điểm hơn người cầm chương thì lấy tiền của người cầm chương bằng số tiền đã đặt cược.
ệ
ữ tại chỗ 2 đối tượng Nguyễn Văn H và Trần Văn T đang thực hiện hành vi đánh bạc. Các đối tượng khác, lợi dụng lúc lộn xộn đã bỏ trốn khỏi hiện trường.
Đến ngày 28/01/2019, tất cả các đối tượng còn lại tham gia đánh bạc gồm: Lê Văn Đ; Phạm Viết Th; Trần Văn H; Nguyễn Cảnh D; Mai Chí C; Nguyễn Cảnh H; Nguyễn Văn Qu đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương để đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Tại đây, Mai Chí C đã giao nộp 650.000 đồng (Sáu trăm năm mươi nghìn đồng); Trần Văn H giao nộp 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng). Nguyễn Cảnh D giao nộp 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng).
(Sáu triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng
:
Nguyễn Văn H dùng
(
ệ
),
H dùng 1.350.000 đồng (Một triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng), Mai Chí C dùng
(Một triệu mộ
), Lê Văn Đ dùng 1.100.000
(Một triệu mộ
), Trần Văn T dùng
), Nguyễn Cảnh D dùng
), Phạm Viết Th dùng
),
Qu dùng
(Một t
), Nguyễn Cảnh H dùng
(Hai trăm nghìn đồng) vào việc đánh bạc.
Tang vật thu giữ gồm: 01 chiếc chiếu nhựa nhiều màu đã qua sử dụng;
và các bị cáo giao nộp là: 6.85
(
tám trăm năm ngàn
); Mộ
ồm 36 quân.
Tại bản cáo trạng số 45/VKS-HS ngày 04/5/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An truy tố Mai Chí C, Lê Văn Đ, Nguyễn Văn H, Trần Văn T, Trần Văn H, Nguyễn Cảnh D, Phạm Viết Th, Nguyễn Cảnh H, Nguyễn Văn Qu đều về tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Mai Chí C, Lê Văn Đ, Nguyễn Văn H, Trần Văn T, Trần Văn H, Nguyễn Cảnh D, Phạm Viết Th, Nguyễn Cảnh H, Nguyễn Văn Qu đều phạm tội "Đánh bạc". Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Mai Chí C từ 08 tháng đến 12 tháng tù; Áp dụng khoản 1 điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn Đ từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Áp dụng khoản 1 điều 321, điểm i, s khoản 1,2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H, Trần Văn T, Trần Văn H, Nguyễn Cảnh D, Phạm Viết Th, Nguyễn Cảnh H, Nguyễn Văn Qu từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.
Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật và miễn hình phạt phụ là phạt tiền cho các bị cáo.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo nhất trí về tội danh, khung hình phạt, không tranh luận gì thêm và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đô Lương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo Mai Chí C, Lê Văn Đ, Nguyễn Văn H, Trần Văn T, Trần Văn H, Nguyễn Cảnh D, Phạm Viết Th, Nguyễn Cảnh H, Nguyễn Văn Qu khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa kết luận: Có đủ cơ sở kết luận Mai Chí C, Lê Văn Đ, Nguyễn Văn H, Trần Văn T, Trần Văn H, Nguyễn Cảnh D, Phạm Viết Th, Nguyễn Cảnh H, Nguyễn Văn Qu phạm tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay là Hn toàn phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ căn cứ xác định: Vào ngày 26 tháng 01 năm 2019 tại nhà ở của Nguyễn Văn H, xóm 5, xã Tràng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, các đối tượng Mai Chí C, Lê Văn Đ, Nguyễn Văn H, Trần Văn T, Trần Văn H, Nguyễn Cảnh D, Phạm Viết Th, Nguyễn Cảnh H, Nguyễn Văn Qu đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh ba cây với tổng số tiền 6.850.000 đồng (Sáu triệu tám trăm năm mươi ngàn đồng)
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương truy tố các bị cáo Mai Chí C, Lê Văn Đ, Nguyễn Văn H, Trần Văn T, Trần Văn H, Nguyễn Cảnh D, Phạm Viết Th, Nguyễn Cảnh H, Nguyễn Văn Qu về tội "Đánh bạc" theo khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự là Hn toàn có cơ sở.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo: Đây là vụ án thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng, có nhiều bị cáo tham gia, hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh bài ba cây của các bị cáo là liều lĩnh, trắng trợn, coi thường pháp luật, xâm phạm trật tự xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Trong giai đoạn hiện nay các tệ nạn xã hội đang có chiều hướng gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp, trong đó có tệ nạn đánh bạc đang lan tràn vào từng thôn xóm, gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của một bộ phận nhân dân, chính vì vậy việc tập trung điều tra, truy tố và sớm đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa hôm nay và lên cho các bị cáo một mức án nghiêm và tương xứng với hành vi của từng bị cáo
Bị cáo Mai Chí C có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đó là phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Cần phải lên cho bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng cần xem xét bị cáo sau khi phạm tội đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bố là thương binh 4/4, mẹ đẻ của bị cáo là người có công với cách mạng được nhà nước tăng Huân chương kháng chiến hạng ba. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Lê Văn Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng là đối tượng có nhân thân xấu đã hai lần bị xét xử trong đó 01 lần xét xử về tội đánh bạc thể hiện là đối tượng khó giáo dục cần lên cho bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng cần xem xét tình tiết giảm nhẹ đó là sau khi phạm tội đã ra đầu thú, thái đội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo.
Với các nhận định trên, cần xét xử các bị cáo nghiêm minh, cách ly các bị cáo C, Đ ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo và phòng ngừa chung.
Bị cáo Nguyễn Văn H, Trần Văn T, Trần Văn H, Nguyễn Cảnh D, Phạm Viết Th, Nguyễn Cảnh H, Nguyễn Văn Qu không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mà có các tình tiết giảm nhẹ đó là các bị cáo đều có nhân thân tốt, phạm tội lần này là lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Cảnh D, Phạm Viết Th, Nguyễn Cảnh H, Nguyễn Văn Qu sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Bị cáo H có bố là thương binh hạng 4/4, bị cáo T và Qu có bố là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân huy chương. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, i khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ phần nào hình phạt cho các bị cáo.
Do các bị cáo Nguyễn Văn H, Trần Văn T, Trần Văn H, Nguyễn Cảnh D, Phạm Viết Th, Nguyễn Cảnh H, Nguyễn Văn Qu là đối tượng có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ rang, nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ nghiêm.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt tù các bị cáo còn có thể bị phạt tiền hoặc tịch thu tài sản, nhưng qua xác minh của cơ quan điều tra thì các bị cáo Mai Chí C, Lê Văn Đ, Nguyễn Văn H, Trần Văn T, Trần Văn H, Nguyễn Cảnh D, Phạm Viết Th, Nguyễn Cảnh H, Nguyễn Văn Qu, tài sản không có gì đáng giá vì vậy không áp dụng hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản đối với các bị cáo.
Về vật chứng và xử lý vật chứng: Số tiền 6.850.000 đồng (Sáu triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) là số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
+ 01 bộ bài tú lơ khơ 36 quân từ quân A đến quân 9 và một chiếc chiếu nhựa nhiều màu là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ
Về án phí: Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội; buộc các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tại phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Mai Chí C, Lê Văn Đ, Nguyễn Văn H, Trần Văn T, Trần Văn H, Nguyễn Cảnh D, Phạm Viết Th, Nguyễn Cảnh H và Nguyễn Văn Qu phạm tội "Đánh bạc".
Áp dụng: khoản 1 Điều 321, điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Mai Chí C 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28/01/2019 đến ngày 03/02/2019.
Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Lê Văn Đ 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28/01/2019 đến ngày 03/02/2019.
Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn H 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Trần Văn H 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Trần Văn T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Nguyễn Cảnh D 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Phạm Viết Th 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Nguyễn Cảnh H 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Nguyễn Văn Qu 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn H, Trần Văn H, Trần Văn T, Nguyễn Cảnh D, Phạm Viết Th, Nguyễn Cảnh H, Nguyễn Văn Qu cho UBND xã Tràng Sơn, huyện Đô Lương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn H, Trần Văn H, Trần Văn T, Nguyễn Cảnh D, Phạm Viết Th, Nguyễn Cảnh H, Nguyễn Văn Qu thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 69 luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về vật chứng và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 6.850.000 đồng (Sáu triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng). Số tiền trên có tại kho bạc nhà nước huyện Đô Lương, tài khoản số 39490105362900000 của Công an huyện Đô Lương.
Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 36 quân từ quân A đến quân 9 và một chiếc chiếu nhựa nhiều màu
(Vật chứng trên có tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/5/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội: Buộc bị cáo Mai Chí C, Lê Văn Đ, Nguyễn Văn H, Trần Văn T, Trần Văn H, Nguyễn Cảnh D, Phạm Viết Th, Nguyễn Cảnh H và Nguyễn Văn Qu mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - - VKSND huyện Đô Lương; - - VKSND tỉnh Nghệ An; - - TAND tỉnh Nghệ An; - - Công an huyện Đô Lương; - - THADS huyện Đô Lương; - - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - - Bị cáo; - - Lưu hồ sơ vụ án, TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN ––––––––––––––– BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi giờ 00 ngày 30 tháng 5 năm 2019 Tại: Trụ sở Toà án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đ Anh. Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Trần Văn Luyện và ông Lê Văn Ngọc. ngày 07 tháng 5 năm 2019 đối với: xã Bắc Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Tràng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Tràng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Tràng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Tràng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Tràng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập đều hợp pháp quá trình điều tra, truy tố và xét xử đều hợp pháp. Kết quả biểu quyết: 3/3 Trần Văn T, Trần Văn H, Nguyễn Cảnh D, Phạm Viết Th, Nguyễn Cảnh H và Nguyễn Văn Qu phạm tội “Đánh bạc”; - Về điều luật áp dụng: Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với Mai Chí C. Đối với Lê Văn Đ. hình sự. Đối với Nguyễn Văn H, Trần Văn T, Trần Văn H, Nguyễn Cảnh D, Phạm Viết Th, Nguyễn Cảnh H và Nguyễn Văn Qu. Kết quả biểu quyết: 3/3; 3.Về mức hình phạt: ngày 03/02/2019. ngày 03/02/2019. thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. gian thử thách 12 (Mười hai) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. gian thử thách 12 (Mười hai) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạm Viết Th, Nguyễn Cảnh H, Nguyễn Văn Qu cho UBND xã Tràng Sơn, huyện Đô Lương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Cảnh D, Phạm Viết Th, Nguyễn Cảnh H, Nguyễn Văn Qu thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 69 luật thi hành án hình sự. nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Kết quả biểu quyết: 3/3; 4.Về các vấn đề khác: tụng hình sự: năm mươi nghìn đồng). Số tiền trên có tại kho bạc nhà nước huyện Đô Lương, tài khoản số 39490105362900000 của Công an huyện Đô Lương. một chiếc chiếu nhựa nhiều màu biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/5/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương). Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội: Buộc bị cáo Mai Chí C, Lê Văn Đ, Nguyễn Văn H, Trần Văn T, Trần Văn H, Nguyễn Cảnh D, Phạm Viết Th, Nguyễn Cảnh H và Nguyễn Văn Qu mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. tuyên án. Kết quả biểu quyết: 3/3; Trần Văn H, Nguyễn Cảnh D, Phạm Viết Th, Nguyễn Cảnh H và Nguyễn Văn Qu. xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trần Văn Luyện Lê Văn Ngọc | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đ Anh CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - H phúc –––––––––––––––––––––––––––––– Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2019/TLST-HS 1. Bị cáo Mai Chí C, sinh ngày 16 tháng 02 năm 1987. Trú tại: Xóm 5, 2. Bị cáo Lê Văn Đ, sinh ngày 01/11/1975.Trú tại: Xóm 6, xã Tràng 3. Bị cáo Nguyễn Văn H, sinh ngày 01/9/1977. Trú tại: Xóm 5, xã 4. Bị cáo Trần Văn H, sinh ngày 20/12/1974. Trú tại: Xóm 5, xã Tràng 5. Bị cáo Trần Văn T, sinh ngày 13/5/1969. Trú tại: Xóm 5, xã Tràng 6. Bị cáo Nguyễn Cảnh D, sinh ngày 24/8/1994. Trú tại: Xóm 5, xã 7. Bị cáo Phạm Viết Th, sinh ngày 06/12/1977. Trú tại: Xóm 5, xã 8. Bị cáo Nguyễn Cảnh H, sinh ngày 27/11/1983. Trú tại: Xóm 8, xã 9. Bị cáo Nguyễn Văn Qu, sinh ngày 01/8/1976. Trú tại: Xóm 5, xã Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT 1. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ, không thuộc trường hợp * Các chứng cứ, tài liệu trong vụ án do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, * Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong 2.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mai Chí C, Lê Văn Đ, Nguyễn Văn H, Áp dụng: khoản 1 Điều 321, điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, 2 Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Xử phạt: Mai Chí C 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28/01/2019 đến Xử phạt: Lê Văn Đ 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28/01/2019 đến Xử phạt: Nguyễn Văn H 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, Xử phạt: Trần Văn H 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời Xử phạt: Trần Văn T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời Xử phạt: Nguyễn Cảnh D 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, Xử phạt: Phạm Viết Th 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời Xử phạt: Nguyễn Cảnh H 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, Xử phạt: Nguyễn Văn Qu 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, Giao bị cáo Nguyễn Văn H, Trần Văn H, Trần Văn T, Nguyễn Cảnh D, Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn H, Trần Văn H, Trần Văn T, Nguyễn Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm *Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 6.850.000 đồng (Sáu triệu tám trăm Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 36 quân từ quân A đến quân 9 và (Vật chứng trên có tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương theo * Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 * Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày Giải thích chế định án treo cho các bị cáo Nguyễn Văn H, Trần Văn T, Nghị án kết thúc vào hồi 11 giờ 15 phút , ngày 30 tháng 5 năm 2019. Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đ Anh |