- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bàn Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bàn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND HUYỆN ĐỊNH HÓA CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2019/HSST Ngày 18 /11/2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Kiểm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Trường Thọ.
2. Bà Trần Thị Hồng Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.
- Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Vĩnh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2019; tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2019/TLST- HS ngày 24 tháng 10 năm 2019; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45 /2019/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bàn Văn H (Không có tên gọi khác), sinh ngày 10 tháng 10 năm 1985 tại huyện CH, tỉnh Tuyên Quang. Nơi ĐKHKTT và cư trú: Xóm KL, xã LP, huyện CH, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 4/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; không theo tôn giáo nào; con ông Bàn Văn Ph và bà Triệu Thị L; vợ Nguyễn Thị Th; có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ, sinh năm 2015; tiền sự: Không; tiền án: 01. Tại bản án số 02/2018/ HSST, ngày 25/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện CH, tỉnh Tuyên Quang, xử phạt Bàn Văn H 02 ( hai ) năm tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Nhân thân: Ngày 17/4/2017 bị cáo bị Công an xã LP, huyện CH,tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức phạt tiền.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2019 đến nay. Có mặt.
- Người làm chứng trong vụ án: Anh Bàn Văn Đ, sinh năm 1997; trú tại xóm KL, xã LP, huyện CH, tỉnh Tuyên Quang; Vắng mặt.
- Người chứng kiến: Anh Ôn Văn H, sinh năm 1986; trú trại xóm ĐU, xã PC, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 50 phút ngày 05/7/2019, tổ công tác của Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã PC làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại đoạn đường liên xã thuộc xóm ĐU, xã PC thì phát hiện hai nam thanh niên đang dựng xe mô tô nhãn hiệu MILKYWAY, BKS 22K5 – 8584, màu xanh đen tại lề đường có biểu hiện nghi vấn về ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra hành chính, xác định hai nam thanh niên trên là: Bàn Văn H, sinh năm 1985 và Bàn Văn Đ, sinh năm 1976 cùng trú tại xóm Khuổi Lầy, xã LP, huyện CH, tỉnh Tuyên Quang. Kiểm tra người Bàn Văn H, tổ công tác phát hiện, thu giữ tại túi quần bên phải, phía trước 01 gói chất bột màu trắng, được gói bằng giấy màu xanh (nghi là Heroine), H khai là Hê rô in; 01 xi lanh nhựa loại 3ml, chưa qua sử dụng. Kiểm tra người, đồ vật của Bàn Văn Đ, tổ công tác không phát hiện, thu giữ gì.
Kết quả cân gói chất bột màu trắng thu giữ được của Bàn Văn H có trọng lượng: 0,063 gam (không phẩy không sáu ba gam), lấy toàn bộ niêm phong trong bì ký hiệu A2 gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số: 1029/KL-KTHS ngày 12/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, loại: Heroine; có khối lượng là 0,063 gam.
Qua điều tra, xác định Bàn Văn H là đối tượng có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích (Bản án số 02/2018/HSST, ngày 25/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện CH, tỉnh Tuyên Quang, xử phạt Bàn Văn H 02 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015).
Tại Cơ quan điều tra, Bàn Văn H khai nhận: Gói chất bột màu trắng của H bị Công an thu giữ là ma túy. H và Đ cùng là đối tượng nghiện chất ma túy và quen biết nhau. Sáng ngày 05/7/2019, H rủ Đ cùng đi sang huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên mục đích đi tìm mua ma túy để sử dụng. H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu MILKYWAY, BKS 22K5 – 8584, màu xanh đen chở Đ đi từ thôn Khuổi Lầy, xã LP, huyện CH, tỉnh Tuyên Quang đến khu vực xã Bảo Cường, huyện Đ. Khi đến khu vực cầu Nà Linh, xã Bảo Cường, huyện Đ, H quan sát thấy bên trái đường theo chiều đi của H có 01 người đàn ông không quen biết đang dừng xe mô tô tại lề đường. H dừng xe và đi bộ đến vị trí người đàn ông ở bên đường và hỏi mua của người đàn ông này 01 gói ma túy với giá 250.000 đồng. Khi H đi bộ sang đường mua ma túy thì Bàn Văn Đ đứng tại vị trí H dừng xe, cách vị trí H mua ma túy khoảng 10 mét. Sau khi mua được ma túy, H quay lại vị trí Đ đứng đợi sau đó điều khiển xe mô tô chở Đ đi tìm khu vực vắng người để sử dụng. Trên đường đi, H mua 01 xilanh nhựa, loại 3ml mục đích để sử dụng ma túy, khi đi đến đoạn đường thuộc xóm ĐU, xã PC, huyện Đ. Quan sát thấy vắng người, H dừng xe tại lề đường, sau đó H và Đ đi vào bụi chuối cạnh đường để sử dụng ma túy, đúng lúc này tổ công tác của Công an huyện Đ và Công an xã PC đến tiến hành kiểm tra hành chính và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Quá trình điều tra, Bàn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình như đã nêu trên. Lời khai của H là phù hợp với lời khai Bàn Văn Đ, người chứng kiến, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định cũng như các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có 0,047 (không phẩy không bốn bảy) gam Hêrôin còn lại sau giám định; 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu A3, bên trong là vỏ bì niêm phong tang vật khi bắt quả tang đối với Bàn Văn H; 01 xilanh nhựa loại 3ml chưa qua sử dụng. Xe mô tô BKS: 22K5 – 8584, nhãn hiệu MILKYWAY, màu xanh đen, cũ đã qua sử dụng sau khi điều tra, xác minh làm rõ, cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Thanh là chủ sở hữu quản lý và sử dụng.
Bản cáo trạng số 47/CT – VKS ngày 24/10/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Bàn Văn H ra trước Tòa án nhân dân huyện Đ , tỉnh Thái Nguyên để xét xử bị cáo về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay, bị cáo Bàn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, bị cáo biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo xác định việc truy tố tại bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đối với bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan, sai. Bị cáo xác định trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo không bị ép cung, mớm cung, dùng nhục hình.
Kết thúc phần xét hỏi, Đ diện Kiểm sát viên giữ quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội. Sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ, tính chất, hành vi, hậu quả mà bị cáo gây ra, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Bàn Văn H về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử :
Tuyên bố : Bị cáo Bàn Văn H phạm tội « Tàng trữ trái phép chất ma túy ».
- Áp dụng : Điểm a, khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Bàn Văn H từ 24 đến 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 06/7/2019. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho công tác thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Vật chứng của vụ án: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu A2; 0,047 (không phẩy không bốn bảy) gam Hêrôin còn lại sau giám định đựng trong vỏ bì niêm phong ký hiệu A2; 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu A3, bên trong là vỏ bì niêm phong tang vật khi bắt quả tang đối với Bàn Văn H; 01 xilanh nhựa loại 3ml chưa qua sử dụng.
- Về án phí: Bị cáo Bàn Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận: Bị cáo H không tranh luận, bào chữa.
Bị cáo H nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2. Về hành vi phạm tội của bị cáo Bàn Văn H, Hội đồng xét xử thấy: Tại phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay, bị cáo H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai, các bản tự khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng Bàn Văn Đ và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác Cơ quan Điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản án số 02/2018/ HSST, ngày 25/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện CH, tỉnh Tuyên Quang, xử phạt Bàn Văn H 02 ( hai ) năm tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 21/11/2017, đến ngày 28/4/2019 mới chấp hàng xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích, nay tiếp tục có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Bàn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này ..., chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”
Do đó bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Bàn Văn H về tội danh và điều luật viện dẫn ở trên và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
3. Đánh giá về hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy:
- Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự; xâm phạm quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an ở địa phương, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo cố ý thực hiện.
- Về nhân thân: Bị cáo H có nhân thân xấu, bị cáo có trình độ văn hóa, có đủ trình độ nhận thức để điều chỉnh hành vi xử sự của bản thân cho đúng vói các qui định của pháp luật, nhưng do ham ăn chơi, đua đòi nên bị cáo nghiệm ma túy. Ngày 17/4/2017 bị cáo bị Công an xã LP, huyện CH,tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức phạt tiền. Ngày 25/01/2018 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện CH, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 02 năm tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 28/4/2019 mới chấp hành xong hình phạt tù, trở về địa phương. Với mức án nghiêm khắc như vậy nhưng bị cáo không chịu lấy đó làm bài học cho bản thân, không chịu tu dưỡng, rèn luyện để trở thành người công dân lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội. Ngược lại, sau khi ra trại về địa phương bị cáo tiếp tục sử dụng ma túy. Bị cáo biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật nhưng cố ý thực hiện, điều đó thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo.
- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại hoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
4. Về hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ tránh nhiệm hình sự đối với bị cáo, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để tập trung cải tạo mới có tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
5.Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh và tại phiên tòa, xét thấy bị cáo nghiện ma túy, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
6. Về xử lý vật chứng của vụ án: 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu A2; 0,047 (không phẩy không bốn bảy) gam Hêrôin còn lại sau giám định đựng trong vỏ bì niêm phong ký hiệu A2; 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu A3, bên trong là vỏ bì niêm phong tang vật khi bắt quả tang đối với Bàn Văn H; 01 xilanh nhựa loại 3ml chưa qua sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.
7. Về án phí hình sự sơ thẩm : Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
8 .Về nguồn gốc số Hêrôin bị thu giữ, Bàn Văn H khai nhận mua của 01 người đàn ông không quen biết tại khu vực cầu Nà Linh, xã Bảo Cường, huyện Đ, H không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Đ không có căn cứ để xác minh, điều tra làm rõ.
Liên quan đến vụ án còn có đối tượng Bàn Văn Đ cùng đi mua ma túy với Bàn Văn H, tuy nhiên H mua ma túy về mục đích để sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích mua bán, trao đổi với người khác, lượng ma túy (loại hêrôin) H tàng trữ dưới 0,1 gam. Vì vậy, hành vi của Bàn Văn Đ không cấu thành tội phạm. Nguyễn Thị Thanh là chủ sở hữu, quản lý xe mô tô BKS 22K5 – 8589, sau đó H dùng xe mô tô này đi mua và tàng trữ trái phép chất ma túy, tuy nhiên khi H lấy xe mô tô đi Thanh không biết H dùng xe mô tô đi tìm mua và tàng trữ trái phép chất ma túy, vì vậy cơ quan Công an huyện Đ không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với Thanh.
9. Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc áp dụng hình phạt, xử lý vật chứng và về án phí đối với bị cáo là phù hợp và có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260; khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; Điều 326 khoản 1, khoản 3 Điều 329; khoản 1 Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Bàn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1.Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Bàn Văn H 30 ( ba mươi) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 06 tháng 7 năm 2019.
Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ( ngày 18 tháng 11 năm 2019).
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu A2; 0,047 (không phẩy không bốn bảy) gam Hêrôin còn lại sau giám định đựng trong vỏ bì niêm phong ký hiệu A2; 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu A3, bên trong là vỏ bì niêm phong tang vật khi bắt quả tang đối với Bàn Văn H; 01 xilanh nhựa loại 3ml chưa qua sử dụng
3. Về án phí: Căn cứ các điều 135,136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Bàn Văn H phải chịu 200.000 VNĐ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tròn, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Thái Nguyên; - VKSND huyện Định Hoá (2 bản); - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - Công an huyện Đ (2 bản); - Chi cục THADS huyện Đ; - Bị cáo; - THA hình sự - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Kiểm |