- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Quàng Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 45 /2019/HS-ST Ngày: 25 /9 /2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Ngọc Tam.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Cầm Văn Quynh ;
Ông Lò Văn Dưỡng.
Thư ký phiên toà: Ông Hà Văn Thiết – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp tham gia phiên toà: Ông Mai Văn Quyết – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La; xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 43/2019/TLST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 154 /2019/QĐXXST-HS ngày 10/9/2019 đối với bị cáo:
Quàng Văn Đ, tên gọi khác: Không, sinh ngày 12 tháng 7 năm 1989, tại xã Nà N, huyện S, tỉnh Sơn L.
Nơi cư trú: Bản Nà N, xã Nà N, huyện S, tỉnh Sơn L; nghề nghiệp: Trồng Trọt; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Thái; con ông Quàng Văn Ù và bà Lò Thị H; có vợ, có 02 con; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân; Ngày 15/5/2007 bị Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử 24 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 48 tháng về tội Phá hủy công trình quan trọng về an ninh Quốc gia; ngày 11/9/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, cộng với 24 tháng tù của bản án trước thành 54 tháng tù, ra tù ngày 11/8/2012; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/6/2019 cho đến nay, có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trọng vụ án:
Tòng Thị S, sinh năm 1989, cư trú bản Nà N, xã Nà N, huyện S, tỉnh Sơn L, có mặt.
NỘI DỤNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 03 tháng 6 năm 2019 Quàng Văn Đ điều khiển xe máy của gia đình từ bản Nong Lanh, xã Mường Và, huyện sốp Cộp đến bản Co Mạ, xã Huổi Một, huyện Sông Mã, Đ gặp và mua của một người dân tộc tên là Trống được 01 gói Heroine với số tiền 100.000 đồng, mục đích để sử dụng cho bản thân, trên đường về đến bản Sốp Nặm, xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La thì bị Công an huyện Sốp Cộp kiểm tra phát hiện thu giữ trong miệng của Đ 01 gói nilon màu đen bên trong chứa chất bột màu trắng Đ khai là Heroine; Vật chứng được niêm phong, Đ bị dẫn giải đến Cơ quan điều tra Công an huyện Sốp Cộp để điều tra làm rõ.
Ngày 05/6/2019 tại phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La, thành lập hội đồng mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định, xác định khối lượng vật chứng thu giữ của Đảm có khối lượng 0,22gam, đã trích hết làm mẫu giám định ký hiệu Đ.
Tại bản kết luận giám định số 1022 ngày 06/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: "Mẫu gửi giám định ký hiệu Đ là ma túy; loại Heroine; Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,22gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,22gam; loại Heroine”.
Bản cáo trạng số 43 /CT-VKSSC ngày 19 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Quàng Văn Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38 ; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Quàng Văn Đ từ 14 tháng đến 18 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng:
Vật chứng còn lại 01(một) chiếc phong bì màu trắng niêm phong ban đầu cùng 03(ba) mảnh nilon màu đen; 01(một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONĐA, kiểu VISION màu xanh, biển kiểm soát 26B1-820.81, 01 đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Quàng Văn Quân xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về nguồn gốc ma túy, bị cáo khai mua của một người dân tộc tên là Trống, không biết địa chỉ, ngoài lời khai của bị cáo không còn căn cứ khác chứng minh, nên cơ quan điều tra Công an huyện Sốp Cộp không có căn cứ để xử lý trong vụ án.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai nhận của bị cáo, vật chứng của vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sốp Cộp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định tội danh:
Tại phiên tòa bị cáo Quàng Văn Đ khai nhận ngày 03 tháng 6 năm 2019 đã mua của một người không quen biết 01 gói nilon màu đen với số tiền 100.000 đồng của một người dân tộc không quen biết, trên đường về đến bản Sốp Nặm, xã Sốp Cộp, bị Công an huyện Sốp Cộp phát hiện bắt quả tang thu giữ số ma túy có khối lượng 0,22 gam; Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 14 giờ 00 phút ngày 03 tháng 6 năm 2019; Biên bản cân tịnh vật chứng, kết luận giám định số 1022, ngày 5/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La, vật chứng của vụ án là 0,22 gam ma túy, loại Heroine.
Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Quàng Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn, bị cáo là người có đủ năng lực pháp luật, nhận thức được Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm răn đe giáo dục và để phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, trước khi phạm tội bị cáo có 02 tiền án nhưng đã được xóa án tích, được coi là chưa có tiền án, nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Với các căn cứ nêu trên. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp truy tố bị cáo Đảm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự và đưa ra mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội là có căn cứ đúng với quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với tội danh và điều luật áp dụng, xin giảm nhẹ hình phạt.
Về hình phạt bổ sung:
Ngoài hình phạt chính lẽ ra bị cáo phải bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo qui định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự; xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, gia đình là hộ nghèo, nên không áp dụng.
Về vật chứng:
Vật chứng là 01(một) chiếc phong bì màu trắng niêm phong ban đầu cùng 03 mảnh nilon màu đen là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
01(một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONĐA, kiểu VISION màu xanh ; 01 đăng ký xe mô tô xe máy mang tên Quàng Văn Quân, xác định là tài sản riêng của Tòng Thị Sơn, vợ của bị cáo, cần trả lại cho Tòng Thị S.
Về án phí : Áp dụng khoản điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, cần miễn khoản án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tuyên quyền kháng cáo đối với bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Quàng Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt Quàng Văn Đ 14 (mười bốn) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/6/2019.
Không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo.
2. Vật chứng:
Căn cứ vào điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu để tiêu hủy 01 (Một) phong bì của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã niêm phong dán kín ; mặt trước ghi : Vật chứng vụ lưu kho vụ : Quàng Văn Đ, sinh năm 1989, bên trong phong bì có, 01 phong bì thư niêm phong ban đầu cùng 03 mảnh nilon màu đen.
- Tuyên trả cho Tòng Thị S 01(một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONĐA, kiểu VISION màu xanh, biển kiểm soát 26B1-820.81, số khung : 332045 ; số máy : 0405101, xe đã qua sử dụng.
- 01(một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, số máy số : 083829 mang tên chủ xe Quàng Văn Quân.
Toàn bộ vật chứng của vụ án theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21 tháng 8 năm 2019, giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện và Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
3. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 /UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ; quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Miễn khoản án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/9/2019). THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Sốp Cộp; - Công an huyện Sốp Cộp; - Thi hành HS; - Trại giam; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Thi HADS huyện Sốp Cộp; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Ngọc Tam |