vanban.org

Bản án 45/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 15/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn S phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma tuý".

Về mức hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Văn S 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 11/7/2019. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Sơn - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn S phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI CHÂU
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2019/HS-ST
Ngày: 15/11/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Hưng

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Công Pình

2. Ông Hà Công Hợi

- Thư ký phiên toà: Ông Hà Thế Anh –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Tới - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 40/2019/HSST ngày 25/10/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2019/QĐXXST-HS ngày 31/10/2019 đối với.

Bị cáo: Bùi Văn S, tên gọi khác (Không), sinh ngày 10 tháng 6 năm 1987 tại huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Xóm M, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 02/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nan; Tôn giáo: Không; Quốc tịch:Việt Nam; Con ông: Bùi Văn Nh, sinh năm 1960 và bà Triệu Thị Ư, sinh năm 1963; Có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1987 và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 11/7/2019, chuyển tạm giam ngày 20/7/2019. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đàm Văn Vượng trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hòa Bình. Bào chữa cho bị cáo Bùi Văn S. Có mặt

Người làm chứng: Anh Lò Văn T, sinh năm 1976; Nơi cư trú: Xóm M, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình.Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 11/7/2019, Công an huyện Mai Châu và tổ công tác số 2 Công an tỉnh Hòa Bình phối hợp cùng công an xã Tân Mai làm nhiệm vụ tại khu vực Xóm M, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình đã bắt quả tang Bùi Văn S có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình điều tra Bùi Văn S khai nhận ngày 07/7/2019 Bùi Văn S đi xe mô tô BKS 28M1- 2500 của vợ là chị Nguyễn Thị H lên nương ngô thuộc khu vực xóm P, xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình để mua ma túy. Bùi Văn S gặp một người không quen biết tên là D và đã mua 01 gói Hêrôin với giá 1.000.000 đồng. Sau khi mua được Bùi Văn S chia thành nhiều gói nhỏ để sử dụng và bán kiếm lời. Buổi trưa ngày 11/7/2019 Bùi Văn S đã bán cho anh Lò Văn T 01 gói với giá là 100.000 đồng. Ngay sau khi bán xong cho Lò Văn T thì S đã bị tổ công tác kiểm tra đột xuất, thu giữ toàn bộ tang vật cùng 100.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 190/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 17/7/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận: Chất bột màu trắng dạng cục trong 02 gói ni lon trong phong bì ghi tên Bùi Văn S gửi giám định có tổng khối lượng là 1,69 gam, là ma túy, loại Heroine.

Bản cáo trạng số 42/CT- VKS - HS ngày 25/10/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai truy tố Bùi Văn S về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu luận tội giữ nguyên quyết định truy tố về tội mua bán trái phép chất ma túy và các tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; trước khi phạm tội chưa có tiền án, tiền sự; trình độ văn hóa thấp, sống ở vùng kinh tế khó khăn. Áp dụng Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 251; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt Bùi Văn S từ 30 đến 42 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đề nghị tịch thu toàn bộ số ma túy của bị cáo để tiêu hủy sau khi án có hiệu lực pháp luật.

- Tuyên tịch thu 100.000 đồng của bị cáo để nộp ngân sách nhà nước sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Đối với Lò Văn T người đã mua 01 gói ma túy nhưng đã dùng hết nên đề nghị Hội đồng xét xử không tiếp tục xem xét về hành vi này.

Đối với người tên là D mà Bùi Văn S khai nhận được ma túy, quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được họ tên, không biết địa chỉ ở đâu nên không có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Đề nghị áp dụng điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo công tác thi hành án.

Tại phiên tòa trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Về tội danh nhất trí như Viện kiểm sát huyện Mai Châu đã truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xem xét tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tội thiểu số, trình độ văn hóa học hết lớp 02/12 và ở vùng đặc biệt khó khăn, vợ bị cáo rất yếu 02 con còn nhỏ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ các căn cứ trên tôi đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự xem xét cho bị cáo mức hình phạt là 24 tháng để bị cáo sớm trở về cùng gia đình. Các vấn đề khác đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản lấy lời khai anh Lò Văn T công nhận được mua của bị cáo Bùi Văn S 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng.

Bị cáo Bùi Văn S nhất trí với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiến nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo, tại phiên tòa Bùi Văn S khai nhận về hành vi phạm tội như sau: Ngày 11/7/2019 đã bán 01 gói ma túy cho Lò Văn Tiện để thu lợi là 100.000 đồng. Ngay sau khi bán xong, Bùi Văn S đã bị Công an huyện Mai Châu bắt quả tang thu giữ ma túy có khối lượng 1,69 gam. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, thu giữ tài liệu; Kết luận giám định; biên bản hỏi cung và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đầy đủ cơ sở kết luận: Bùi Văn S phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý cụ thể. Tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

“ 1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm ...”

Như vậy bản cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đối với bị cáo là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX thấy rằng: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiên trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lời nên bị cáo cố tình phạm tội.

Bản luật tội của Kiểm sát viên cũng như lời bào chữa mà trợ giúp viên pháp lý đề nghị. Hội đồng xét xử xét chấp nhận bị cáo phạm tội mua bán trái phép chất ma túy và các tình tiết giảm nhẹ sau: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trình độ văn hóa thấp nên nhận thức còn hạn chế; sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn được quy định tại điểm s khoản1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Không chấp nhận các tình tiết khác vì không có căn cứ pháp lý. Cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh và thẩm vấn công khai tại phiên tòa, thể hiện gia đình hoàn cảnh, bị cáo không có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Về vật chứng của vụ án trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra thu giữ cần xử lý như sau:

- Đối với toàn bộ số ma túy của bị cáo hoàn trả sau giám định cần phải tịch thu để tiêu huỷ.

- Cần tịch thu số tiền 100.000 đồng do bị cáo đã bán ma túy mà có để nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn S phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma tuý".

2.Về mức hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Văn S 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 11/7/2019.

3.Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

-Tuyên tịch thu để tiêu hủy sau khi án có hiệu lực pháp luật: 01( một) phong bì niêm phong mặt trước có chữ Công an tỉnh Hòa Bình, Phòng kỹ thuật hình sự. Mẫu giám định ma túy, mẫu trả lại CQTC;CBGĐ, Đỗ Thành Công, số nhận giám định 190 ngày 12/7/2019, số thông báo KLGĐ: 190 ngày 17/7/2019. Cơ quan trưng cầu: Cơ quan CSĐT huyện Mai Châu số: 28 ngày 12/7/2019. Tên đối tượng Bùi Văn S. Tên mẫu vật Heroin số lượng 02( gói 1: 0,03 gam; gói 2: 1,32g). Mặt sau phong bì có chữ ký của cán bộ niêm phong và được đóng dấu giáp lai bằng 05 (Năm) dấu tròn của của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình.

- Tuyên tịch thu 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng), có số seri là RI 13373853. Tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam đang lưu hành để nộp ngân sách nhà nước sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 13/THA ngày 05/11/2019.

3.Về án phí: Bị cáo Bùi Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000

đồng.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Hoà Bình để xin xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ