vanban.org

Bản án 45/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Tuyên án 30/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quang Tr phạm tội “Tàng trữtrái phép chất matuý”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang Tr 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/6/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang Tr - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÝ NHÂN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:45/2019/HS-ST
Ngày: 30 - 8- 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đinh Văn An.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quốc Tuấn và bà Lê Thị Thu Hiền.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Thành Trung - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Trương Hoàng Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2019/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2019 (Sau đây viết tắt là: 15/8/2019) theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2019/QĐXXST-HS ngày 19/8/2019, đối với bị cáo:

Nguyễn Quang Tr, sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn 3, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phân T (đã chết) và bà Nguyễn Thị L; vợ: Nguyễn Thị T; con: có 02 con (Lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2013); tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 28/6/2019 và chuyển tạm giam từ ngày 03/7/2019 đến nay; có mặt.

Người tham gia tố tụng khác :

- Người làm chứng:

+ Anh Nguyễn Văn H; vắng mặt.

+ Chị Nguyễn Thị T; có mặt.

- Người chứng kiến:

+ Anh Nguyễn Mạnh H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 08 giờ ngày 28/6/2019, tại khu vực thôn 5, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam, Công an huyện L phát hiện Nguyễn Quang Tr đang điều khiển xe môtô đeo biển kiểm soát 18Z4-2352 có biểu hiện nghi vấn nên đã kiểm tra hành chính thì phát hiện và thu giữ tại giỏ xe môtô phía trước Tr đang điều khiển 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 01 gói giấy mặt ngoài màu tím than, mặt trong màu trắng chứa chất bột màu trắng, dạng cục (được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01), Tr khai chất bột màu trắng bị thu giữ là ma túy, Tr vừa mua mục đích để sử dụng cá nhân.

Ngoài ra còn thu giữ của Nguyễn Quang Tr: 01 điện thoại di động Samsung đã cũ (niêm phong trong phong bì ký hiệu QT02) và 01 chiếc xe môtô đeo biển kiểm soát 18Z4-2352.

* Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Quang Tr: không thu giữ được tài sản, đồ vật gì liên quan đến vụ án.

* Tại bản kết luận giám định số 137/PC09-MT ngày 03/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,238 gam (không phảy hai trăm ba mươi tám gam), loại: Heroine.

* Nguyễn Quang Tr khai nguồn gốc số Heroine trên Tr gọi điện thoại cho một người lạ mặt tên Hải, sau đó điều khiển xe môtô đeo biển kiểm soát 18Z4-2352 đến khu vực xã N để mua ma túy về sử dụng; Tr mua 01 gói ma túy của người này với giá 150.000 đồng, trên đường về thì bị bắt quả tang.

* Vật chứng thu giữ:

Chiếc xe môtô nhãn hiệu HONDA, đeo biển kiểm soát 18Z4-2352 (số khung NC18951571, số máy NCE1150569) và đăng ký xe, quá trình điều tra xác định: chiếc xe này có biển kiểm soát là 29-S8-748; do làm mất biển kiểm soát chiếc xe môtô trên nên bị cáo đã mua chiếc biển kiểm soát 18Z4-2352 của một người bán đồng nát lắp vào xe để sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung đã cũ. Các tài sản này là tài sản của cá nhân Nguyễn Quang Tr.

* Quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện.

Tại bản cáo trạng số 47/CT-VKSLN ngày 15/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đã truy tố Nguyễn Quang Tr về tội“Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân luận tội: Giữ nguyên quan điểm kết tội đối với bị cáo như cáo trạng đã nêu. Sau khi phân tích, đánh giá toàn diện vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là: HĐXX): áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: xử phạt Nguyễn Quang Tr từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đồng thời đề xuất hướng xử lý vật chứng hiện đang thu giữ.

- Bị cáo Nguyễn Quang Tr đã thừa nhận và khai báo toàn bộ động cơ, mục đích cũng như diễn biến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy vào sáng ngày 28/6/2019 cơ bản đúng như nội dung cáo trạng đã nêu, bị cáo không có ý kiến gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, kết luận giám định và lời khai của người tham gia tố tụng khác trong vụ án. Bị cáo không có ý kiến bào chữa và tranh luận gì đối với cáo buộc của Viện kiểm sát, bản thân đã nhận thức rõ lỗi lầm và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Chị Nguyễn Thị T trình bầy: chị là vợ của bị cáo nhưng không biết chồng mình nghiện ma túy và xác định những tài sản bị thu giữ trong vụ án không phải là tài sản chung của vợ chồng mà là tài sản cá nhân của Nguyễn Quang Tr.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, các vật chứng đã thu giữ tại hiện trường, bản kết luận giám định về ma túy, cũng như chính lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập theo trình tự luật định, phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Hồi 08 giờ ngày 28/6/2019, tại khu vực thôn 5, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam, Nguyễn Quang Tr đang có hành vi cất giấu trái phép 0,238 gam chất ma túy, loại Heroine để sử dụng thì bị lực lượng Công an huyện L bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Quang Tr đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Quan điểm kết tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hình phạt: Hành vi phạm tội của Nguyễn Quang Tr là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với chất ma tuý, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương mà còn làm ảnh hưởng trực tiếp đến chính sức khỏe cũng như cuộc sống gia đình của bị cáo. Vì vậy, cần thiết phải xử lý nghiêm minh, áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, cũng như đáp ứng công tác phòng, chống tội phạm chung.

- Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt (chưa có tiền án, tiền sự), có nơi cư trú rõ ràng, ổn định và đây là lần đầu phạm tội.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa Nguyễn Quang Tr đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, đồng thời thể hiện rõ sự ăn năn hối cải trước pháp luật; bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự; bố đẻ bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba, kỷ niệm chương Cựu chiến binh Việt Nam và Huy hiệu 45 năm tuổi Đảng, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. HĐXX sẽ cân nhắc các tình tiết này và yếu tố nhân thân và để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo sớm tái hòa nhập cộng đồng, cũng như thấy được tính nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội, đảm bảo đạt lý, thấu tình.

Xét thấy cần tiếp tục tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án, nên Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Về hình phạt bổ sung: Xét mục đích phạm tội của bị cáo không để thu lợi bất chính, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo theo quy định tại Điều 35 và khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng của vụ án:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen và 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA (số khung NC18951571, số máy NCE1150569) cùng đăng ký xe, là tài sản cá nhân hợp pháp của Nguyễn Quang Tr, bị cáo sử dụng các tài sản này vào việc mua bán và cất giấu ma túy, nên phải tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

- Số Heroine thu giữ của bị cáo cùng bao gói, được Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam hoàn trả sau giám định và 01 biển kiểm soát xe môtô18Z4-2352 (Hiện đang đeo trên xe máy, nhãn hiệu HONDA bị tịch thu nêu trên, bị cáo mua và tự lắp vào xe để sử dụng), không có giá trị sử dụng, cần tịch thu và tiêu huỷ.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và căn cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong các giai đoạn tố tụng đã thực hiện và ban hành đều hợp pháp, tuân thủ các nguyên tắc tố tụng cũng như đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được giao theo quy định.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Quyền kháng cáo: Bị cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Về vấn đề khác: Nguyễn Quang Tr khai mua Heroine của một người đàn ông tên Hải không rõ địa chỉ; Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định rõ được, nên không có căn cứ xử lý theo pháp luật. Do đó, HĐXX không đề cập.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quang Tr phạm tội “Tàng trữtrái phép chất matuý”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang Tr 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/6/2019.

[2] Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung vỏ ngoài màu đen (bên trong có 01 cục pin và 02 sim); 01 xe máy màu nâu, nhãn hiệu HONDA, số máy NCE-1150569, số khung NC189-51571; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe Mô tô, xe máy số: 007837, do Phòng CSGT Công an TP Hà Nội cấp ngày 13/11/1992.

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong dán kín có số 137/PC09-MT (mẫu vật hoàn trả QT01); 01 biển kiểm soát xe môtô18Z4-2352 (Hiện đang đeo trên xe mô tô, nhãn hiệu HONDA bị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước nêu trên).

(Các vật chứng nêu trên có đặc điểm, tình trạng, số hiệu được ghi trong biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 21/8/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an huyện Lý Nhân và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lý Nhân).

[3] Căn cứ Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Quang Tr phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

- Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của các Điều 6,7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ