vanban.org

Bản án 45/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ: H'N - BĐ: Y D"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TP.BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐĂK LĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2019/HNGĐ – ST
Ngày 14/5/2019.
V/v: Xin ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH BUÔN MA THUỘT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Y Kam Ênuôl

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Mai Xuân Đừng.

2. Ông Phạm Cảm.

- Thư ký phiên toà: Bà Hồ Thị Vi– Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 14 tháng 5 năm 2019, tại Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 968/2019//TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2019/QĐXX – HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị H’N, sinh năm 1992

Địa chỉ: Buôn D, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.

- Bị đơn: Anh Y D, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Buôn D, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Trong bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn – Chị H’N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Y D tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã C, Tp.B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 21/8/2012. Trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách, quan điểm sống không hợp và không tôn trọng lẫn nhau, đến khoảng đầu năm 2014 do mâu thuẫn đã trầm trọng nên hai vợ chồng đã sống ly thân. Nay, giữa tôi và Anh Y D không còn tình cảm với nhau, không thể tiếp tục duy trì được mối quan hệ hôn nhân. Vì vậy, tôi yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, cho tôi được ly hôn với anh Y D.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống với nhau chúng tôi có 01 con chung tên là Y K, sinh ngày 18/3/2012. Sau khi ly hôn tôi có nguyện vọng được nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc cháu Y K đến khi trưởng thành.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu anh Y D cấp dưỡng tiền nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Bị đơn anh Y D mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của nguyên đơn, bị đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về quan hệ pháp luật: Quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự và loại tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về trình tự thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án xét thấy bị đơn – anh Y D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy, Tòa án xác định đây là vụ án không thể tiến hành hòa giải được quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của anh Y D tại phiên Tòa: anh Y D đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm anh Y D vẫn vắng mặt lần hai không có lý do. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử vắng mặt anh Y D là đúng quy định của pháp luật.

.Về nội dung:

Chi H’N và anh Y D có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 21/8/2012 đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Tại phiên tòa nguyên đơn chị H’N xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục duy trì được mối quan hệ hôn nhân và yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột cho chị được ly hôn với anh Y D.

Quá trình Tòa án tiến hành xác minh tại địa phương nơi đương sự cư trú thì thấy rằng: Trong cuộc sống hằng ngày giữa chị H’N và anh Y D có phát sinh mâu thuẫn, tuy nhiên mâu thuẫn như thế nào thì địa phương không nắm rõ, hiện nay giữa chị H’N và anh Y D đã không còn chung sống với nhau được một thời gian dài và đã sống ly thân từ khoảng đầu năm 2014.

Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa chị H’N và anh Y D đã đến mức trầm trọng, đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng sống ly thân nhau từ đầu năm 2014 cho tới nay mà không có biện pháp hàn gắn hạnh phúc gia đình. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H’N đối với anh Y D là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống với nhau chị H’N và anh Y D có 01 con chung tên là Y K, sinh ngày 18/3/2012. Sau khi ly hôn chị H’N có nguyện vọng được nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc cháu Y K đến khi trưởng thành. Sau khi hai vợ chồng ly thân từ đầu năm 2014 cháu Y K đều do chị H’N nuôi dưỡng và chăm sóc, quá trình giải quyết vụ án cháu Y K có nguyện vọng được ở với chị H. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển của cháu Y K Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Y K cho chị H’N chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Y K đến khi đủ tuổi trưởng thành.

Anh Y D có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai có quyền cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H’N không yêu cầu anh Y D cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu tòa án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về án phí: Chị H’N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bôûi caùc leõ treân:

QUYEÁT ÑÒNH

Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 220, Khoản 4 Điều 207, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị H’N. Cho chị H’N được ly hôn với anh Y D.

- Về con chung: Giao cháu Y K, sinh ngày 18/3/2012 cho chị H’N chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến khi trưởng thành.

Anh Y D có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai có quyền cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H’N không yêu cầu anh Y D cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử xem xét giải giải quyết.

Về án phí:

Chị H’N phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm mà Chị H’N đã nộp theo biên lai số AA/2017/0008465 ngày 12/11/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. * Nơi nhận:

Cỡ chữ