vanban.org

Bản án 45/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N, xử cho chị Nguyễn Thị N ly hôn anh Nguyễn Văn T.

Về quan hệ con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục các con là Nguyễn Thu Trà, sinh ngày 27/02/2006 và Nguyễn Thu Trúc, sinh ngày 02/8/2009 cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh T cấp dƣỡng nuôi con cùng chị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị N ly hôn anh Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N, xử cho chị Nguyễn Thị N ly hôn anh Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T1, TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2019/HNGĐ-ST
Ngày 15/10/2019
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T1, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Hƣơng Nhu.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hải và bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Văn Việt - thƣ ký Toà án nhân dân huyện T1.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T1 tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh - kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện T1, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 204/2019/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2019 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 45/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/9/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 50/2019/QĐST-HNGĐ ngày 25/9/2019 giữa các đƣơng sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1979; đăng ký HKTT: Thôn C, xã D, huyện T1, tỉnh Hải Dƣơng; hiện trú tại: Thôn N, xã T2, huyện T1, tỉnh Hải Dƣơng (có mặt).

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1976; đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn C, xã D, huyện T1, tỉnh Hải Dƣơng (vắng mặt).

Ngƣời làm chứng: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1950; trú tại: Thôn C, xã D, huyện T1, tỉnh Hải Dƣơng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn với nhau vào ngày 30/8/2005 trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị sống cùng gia đình chồng ở thôn C, xã D, huyện T1. Anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách không hợp nhau, anh T không tu chí làm ăn, thƣờng xuyên chơi bời cờ bạc dẫn đến nợ tiền của nhiều ngƣời. Chị và gia đình đã khuyên nhủ anh T nhiều lần, đồng thời đã đứng ra vay mƣợn tiền của họ hàng để trả nợ cho anh T nhƣng anh T vẫn không thay đổi. Chị thấy mệt mỏi và sợ hãi mỗi khi có nhiều ngƣời đến nhà đòi nợ nên từ tháng 2/2018, chị đã đƣa con về nhà bố mẹ đẻ ở thôn N, xã T2, huyện T1 sống. Trong thời gian chị sống ở nhà bố mẹ đẻ, anh T thỉnh thoảng có đến thăm con rồi lại đi đâu chị không rõ, anh T cũng không tỏ thái độ muốn vợ chồng về đoàn tụ cùng nhau. Đến nay chị thấy không còn tình cảm với anh T nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn anh T.

Về quan hệ con chung: Chị và anh T có hai con chung là Nguyễn Thu Trà, sinh ngày 27/02/2006 và Nguyễn Thu Trúc, sinh ngày 02/8/2009, từ khi anh chị ly thân nhau đến nay, các con vẫn ở cùng chị, anh T không có trách nhiệm gì với con. Nguyện vọng của chị muốn đƣợc nuôi cả hai con và không yêu cầu anh T phải cấp dƣỡng nuôi con cùng chị. Hiện chị làm công nhân may, thu nhập trung bình là 6.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt văn bản, tài liệu cho bị đơn là anh Nguyễn Văn T và nhiều lần triệu tập anh T đến Tòa án giải quyết vụ ly hôn nhƣng anh T không đến Tòa án làm việc, cũng không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị N.

Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của chị N và anh T. Tại biên bản xác minh ngày 04/9/2019, đại diện lãnh đạo xã cùng đại diện Hội phụ nữ, lãnh đạo thôn C, xã D đều xác nhận anh T và chị N có mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T vay nợ nhiều nhƣng lại thƣờng xuyên không có mặt ở nhà khiến nhiều ngƣời đến nhà đòi nợ, gây áp lực cho chị N, chị N đã phải đƣa con về nhà bố mẹ đẻ ở xã T2 sinh sống. Lãnh đạo thôn C đã trực tiếp liên hệ và khuyên anh T về hòa giải mâu thuẫn với chị N nhƣng anh T tỏ quan điểm không quan tâm đến việc chị N xin ly hôn.

Ngƣời làm chứng là bà Nguyễn Thị Bình (là mẹ anh T) trình bày: Anh T và chị N chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T mải chơi, không quan tâm đến vợ con và nợ tiền của nhiều ngƣời nên vợ chồng thƣờng hay xảy ra cãi nhau. Từ tháng 2/2018, chị N đã đƣa con về nhà bố mẹ đẻ sống, anh T đi làm công nhân ở thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng nhƣng bà không rõ làm gì, địa chỉ cụ thể ở đâu, cứ một hoặc hai ngày anh T lại về nhà.

Cháu Nguyễn Thu Trà và cháu Nguyễn Thu Trúc có lời khai thể hiện nguyện vọng đƣợc ở cùng mẹ là chị Nguyễn Thị N.

Đại diện Cơ quan quản lý nhà nƣớc về gia đình và trẻ em ở xã D đề nghị Tòa án giao cả hai con cho chị N trực tiếp nuôi dƣỡng vì anh T là ngƣời chơi bời, nợ nần nhiều và thƣờng xuyên vắng mặt tại địa phƣơng.

Toà án đã tiến hành các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải vụ án theo quy định của pháp luật nhƣng anh T không đến tham gia nên vụ án không tiến hành hòa giải đƣợc. Tại phiên toà sơ thẩm ngày 25/9/2019, bị đơn là anh Nguyễn Văn T đã đƣợc triệu tập hợp lệ nhƣng không đến tham gia tố tụng nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà.

Tại phiên toà lần thứ hai, chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn anh T và đề nghị đƣợc nuôi con, ngoài ra chị không có yêu cầu gì khác. Anh T đã đƣợc triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhƣng vẫn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T1 có quan điểm xác định việc Toà án thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N là đúng quy định của pháp luật. Quá trình xây dựng hồ sơ, thu thập chứng cứ, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, chị N có mặt, anh T vắng mặt lần hai không có lý do, HĐXX đã căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt bị đơn và thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của ngƣời tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền - nghĩa vụ của mình, bị đơn không thực hiện đúng quyền - nghĩa vụ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hƣớng giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 147, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội, xử cho chị N ly hôn anh T; giao cho chị N nuôi cả hai con, anh T không phải cấp dƣỡng nuôi con cùng chị N; về án phí: chị N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đƣợc thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, cña đƣơng sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn là anh Nguyễn Văn T đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhƣng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên căn cứ các điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Văn T tự nguyện kết hôn và đã đƣợc UBND xã D đăng ký, cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 30/8/2005 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào lời khai của chị N, biên bản xác minh tại địa phƣơng, lời khai của ngƣời làm chứng (là bà Bình) có căn cứ xác định trong cuộc sống chị N và anh T có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do quan điểm sống bất đồng, anh T nợ tiền của nhiều ngƣời nhƣng không có kế hoạch trả, lại thƣờng vắng mặt ở nhà nên khi chủ nợ đến đòi tiền khiến cho cuộc sống của chị N và các con rất căng thẳng. Từ tháng 2/2018 đến nay, chị N và anh T đã sống ly thân nhau. Anh T cũng không có thiện chí đoàn tụ cùng chị N, điều này thể hiện ở việc trong quá trình vợ chồng ly thân, anh T cũng không có biện pháp gì để cải thiện mối quan hệ hôn nhân. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, anh T đã nhiều lần đƣợc Tòa án triệu tập để lấy lời khai, đồng thời hòa giải việc ly hôn với chị N nhƣng không đến, cũng không thể hiện quan điểm muốn vợ chồng đoàn tụ. Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện T1 cũng đề nghị HĐXX xử cho chị N đƣợc ly hôn anh T. Hội đồng xét xử thấy thực tế tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc. Vì vậy căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của chị N, xử cho chị N đƣợc ly hôn với anh T.

Về quan hệ con chung: Các con chung của chị N và anh T là cháu Nguyễn Thu Trà và Nguyễn Thu Trúc hiện đang sống cùng chị N và có nguyện vọng đƣợc ở cùng mẹ, chị N cũng đề nghị Tòa án giải quyết cho chị đƣợc nuôi cả hai con và không yêu cầu anh T cấp dƣỡng. HĐXX thấy từ khi chị N và anh T ly thân nhau tới nay, các con vẫn sinh sống và học tập ổn định cùng chị N tại xã T2, huyện T1. Mặt khác, chị N có công việc và thu nhập ổn định, đủ điều kiện nuôi con, anh T thƣờng xuyên vắng mặt tại địa phƣơng, sinh sống và làm việc không ổn định nên cần giao cả hai con cho chị N trực tiếp nuôi dƣỡng để đảm bảo cuộc sống của các cháu là phù hợp với nguyện vọng của các con, phù hợp với quan điểm của đại diện VKS, quan điểm của cơ quan quản lý gia đình và trẻ em ở địa phƣơng và phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh T cấp dƣỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung: Các đƣơng sự không đề nghị giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị N là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 cña ñy ban th êng vô Quèc héi quy ®Þnh vÒ møc thu, miÔn, gi¶m, thu, nép, qu¶n lý vµ sö dông ¸n phÝ vµ lÖ phÝ Tßa ¸n;

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N, xử cho chị Nguyễn Thị N ly hôn anh Nguyễn Văn T.

2. Về quan hệ con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục các con là Nguyễn Thu Trà, sinh ngày 27/02/2006 và Nguyễn Thu Trúc, sinh ngày 02/8/2009 cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh T cấp dƣỡng nuôi con cùng chị. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai đƣợc cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm ly hôn, đƣợc trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số AA/2017/0005200 ngày 31/7/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T1.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày đƣợc giao bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết. ơNơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đƣơng sự;

Cỡ chữ