vanban.org

Bản án 45/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương Tuyên án 07/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Bình phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---------------
Bản án số: 45/2018/HSST
Ngày 07-3-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Khuôn

Bà Phạm Thị Lan

-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà - Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Hải Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tƣởng - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2018/HSST ngày 08 tháng 2 năm 2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 42/2018/QĐXXST-HS ngày 23-02-2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn B, sinh năm 1996 tại xã T, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng; ĐKHKTT: thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: không; dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1975 và bà Phạm Thị N, sinh năm 1977. Vợ, con: chƣa có.

Tiền án, tiền sự: Chƣa:

Bị bắt tạm giữ ngày 12-12-2017, chuyển tạm giam từ ngày 18-12-2017 đến nay tại Trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dƣơng. Có mặt.

Ngƣời làm chứng:

1. Anh Trần Văn T, sinh năm 1991; vắng mặt.

2. Anh Lê Văn L, sinh năm 1998; vắng mặt.

Đều trú tại: thôn N, xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng tháng 10 năm 2017, Nguyễn Văn B đến khu vực Big C Hải Phòng mua 01 túi ma túy tổng hợp dạng Ketamine với số tiền 1.000.000đồng của một ngƣời đàn ông tên Khánh (không rõ họ, tên, địa chỉ cụ thể); sau đó B đã sử dụng hết ½ túi ma túy, số còn lại B cất giấu đến khoảng 21 giờ 15’ ngày 12-12-2017, B mang theo túi ma túy thuê ngƣời điều khiển xe mô tô chở đến khu vực trƣớc cổng quán Karaoke V ở đƣờng A, phƣờng Nhị Châu, thành phố Hải Dƣơng. Tại đây, B gặp 1 ngƣời tự khai là Phạm Văn X, sinh năm 1988 ở khu tập thể B, phƣờng P, thành phố Hải Dƣơng, X hỏi mua 01 gói ma túy tổng hợp Ketamine, B đồng ý bán với giá 1.500.000đồng. Khi B và X đang giao nhận tiền và ma túy thì Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (PC47) Công an tỉnh Hải Dƣơng bắt quả tang, thu giữ trong túi quần của B số tiền 1.500.000đồng, trên tay X 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa các tinh thể rắn màu trắng trƣớc sự chứng kiến của anh Trần Văn T và anh Lê Văn L.

Tại kết luận giám định số 45/KLGĐ-PC45 ngày 14-12-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Hải Dƣơng kết luận:

Chất tinh thể màu trắng ghi thu của Phạm Văn X gửi đến giám định có trọng lƣợng là 0,569gam, là loại Ketamine.

Ketamine nằm trong danh mục III, STT 35, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19-7-2013 của Chính phủ.

Hoàn trả 0,451gam Ketamine sau giám định.

Tại bản cáo trạng số 43/VKS-HS ngày 06-2-2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng truy tố Nguyễn Văn B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn B khai nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến hay khiếu nại về Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dƣơng, xác định VKSND thành phố Hải Dƣơng truy tố bị cáo về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn B từ 27 tháng đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 12-12-2017;

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 0,451gam Ketamine hoàn lại sau giám định.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nƣớc số tiền 1.500.000đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn B.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Quốc hội. Bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Văn B không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội của Kiểm sát viên và nói lời sau cùng đề nghị đƣợc hƣởng mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn B tại phiên toà phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, lời khai của ngƣời làm chứng; vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Kho¶ng 21 giờ 15’ ngµy 12-12-2017, tại trƣớc cổng quán Karaoke V đƣờng A, khu 21, phƣờng Nhị Châu, thành phố H¶i D ¬ng, Nguyễn Văn B ®ang bán tr¸i phÐp 0,569 gam Ketamine cho 01 đối tƣợng tự khai là Phạm Văn X, sinh năm 1985 ở khu tập thể B, phƣờng P, TP Hải Dƣơng với số tiền là 1.500.000đồng (quá trình làm việc tại Công an thành phố Hải Dƣơng, Xuyến đã bỏ trốn) th× bÞ Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (PC47) Công an tỉnh Hải Dƣơng ph¸t hiÖn b¾t qu¶ tang, thu gi÷ vËt chứng và số tiền 1.500.000đồng.

Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn B là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý chất ma tuý của Nhà nƣớc. Bị cáo Nguyễn Văn B là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc Ketamine là chất ma túy, loại chất hƣớng thần gây nghiện bị Nhà nƣớc cấm lƣu hành, có tác hại cho sức khỏe của con ngƣời; việc bị cáo Nguyễn Văn B mua, cất giấu ma túy nhằm mục đích bán kiếm lời là vi phạm pháp luật nhƣng vì muốn có tiền tiêu xài và ý thức coi thƣờng pháp luật mà bị cáo cố ý thực hiện. Hành vi đó của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo Nguyễn Văn B là ngƣời chƣa có tiền án, tiền sự; về tình tiết tăng nặng: không có; về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn B thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuy nhiên, xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cần thiết xử phạt bị cáo mức hình phạt tù mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Văn B không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định; không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thành phố Hải Dƣơng thu giữ của bị cáo 0,569 gam Ketamine và số tiền 1.500.000đ. Sau khi giám định, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dƣơng hoàn lại mẫu vật là 0,451gam Ketamine. Xét thấy, đây là vật thuộc loại Nhà nƣớc cấm lƣu hành nên cần tịch thu tiêu hủy; đối với số tiền 1.500.000đ là số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội của bị cáo cần tịch thu nộp ngân sách nhà nƣớc theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Nguyễn Văn B phạm tội nên phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra không làm rõ đƣợc ngƣời bán trái phép chất ma túy cho B và ngƣời mua ma túy của B tự khai là Phạm Văn X; tại phiên tòa, bị cáo xác định không biết đƣợc họ tên, địa chỉ của 2 ngƣời này nên không xem xét trong vụ án này.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Dƣơng, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B 27 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 12-12-2017;

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a,b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đƣợc niêm phong dán kín số 45/KLGĐ-PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dƣơng; bên trong là mẫu vật hoàn lại sau giám định.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nƣớc số tiền 1.500.000đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn B.

(Hiện trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09-2-2018 giữa Công an thành phố Hải Dƣơng và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dƣơng).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25-11-2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Quốc Hội. Bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn B đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./. Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND tỉnh Hải Dƣơng;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- VKSND TP Hải Dƣơng;

- Công an TP Hải Dƣơng;

- Trại tạm giam Kim Chi-CA tỉnh HD;

- Chi cục THADS TP Hải Dƣơng;

- Sở tƣ pháp tỉnh Hải Dƣơng;

Nguyễn Thị Thu

- Bị cáo;

- Lƣu hồ sơ vụ án. TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH HẢI DƢƠNG

-----------------------------

---------------

Tp Hải Dương, ngày 15 tháng 12 năm 2017.

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Tân

Ông Nguyễn Mạnh Tuân

Căn cứ vào Điều 199 và Điều 222 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Ngày 15 tháng 12 năm 2017 tại phòng nghị án, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành nghị án vụ án hình sự đối với bị cáo Trịnh Duy Huy bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng truy tố về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 194 BLHS.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án nhƣ sau:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Duy Huy phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí

2. Về điều luật áp dụng

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Nghị quyết số 41/2017/QH14ngày 20-6-2017 của Quốc hội khóa 14, khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76; Điều 231, Điều 234; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Kết quả biểu quyết: Nhất trí 3/3 ý kiến.

3. Về mức hình phạt:

Xử phạt: Bị cáo Trịnh Duy Huy 18 (Mƣời tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 12-10-2017.

Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí

4. Về các vấn đề khác:

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đƣợc niêm phong dán kín số 413/KLGĐ-PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dƣơng; bên trong là mẫu vật hoàn lại sau giám định.

(Hiện trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05-12-2017 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Dƣơng và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dƣơng).

- Về án phí: Bị cáo Trịnh Duy Huy phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trịnh Duy Huy đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH HẢI DƢƠNG

-----------------------------

---------------

Tp Hải Dương, ngày 21 tháng 4 năm 2017.

THÔNG BÁO KẾT QUẢ XÉT XỬ

Kính gửi: - UBND xã Cẩm Văn, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dƣơng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 60/2017/HSST ngày 20/4/2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn Hiện, sinh năm 1989.

ĐKHK và trú tại: thôn Văn Thai, xã Cẩm Văn, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dƣơng.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/12/2016, chuyển tạm giam từ ngày 31/12/2016 đến nay tại Trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dƣơng.

Tòa án nhân dân thành phố Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng đã:

1. Tuyên bố và xử phạt bị cáo Phạm Văn Hiện phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn Hiện 33 (Ba mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26/12/2016;

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Buộc bị cáo Phạm Văn Hiện phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Buộc bị cáo Phạm Văn Hiện phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 231, Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Phạm Văn Hiện đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Vậy Tòa án nhân dân thành phố Hải Dƣơng thông báo để UBND xã Cẩm Văn, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dƣơng đƣợc biết và theo dõi./.

Cỡ chữ