- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ Kiều O tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Tạ Kiều O 01 (một) năm tù, khấu trừ cho bị cáo 09 ngày bị tạm giữ.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| 04TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2018/HS-ST Ngày 22/6/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Phương;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Nguyên Thoại;
Ông Hoàng Văn Ngân;
Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Quang- Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2018/TLST- HS ngày 01 tháng 6 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Tạ Kiều O- sinh ngày 27/4/1986 tại Yên Bái;
Nơi cư trú: Tổ 8, phường D, thành phố L; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 10/10; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tạ Văn Luyến (đã chết) và bà Bùi Thị Thanh Thủy – sinh năm 1965. Địa chỉ: Tổ 04, phường Tân Mai, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
Bị cáo có chồng là Phạm Văn Lĩnh – sinh năm 1985; bị cáo có hai con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/3/2018 đến ngày 03/4/2018. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 7giờ 30 phút ngày 23/3/2018 Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Lào Cai triệu tập bị cáo Tạ Kiều O đến trụ sở Công an tỉnh Lào Cai để làm việc liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật của chồng bị cáo là Phạm Văn Lĩnh. Khi được yêu cầu kiểm tra các tài liệu đồ vật mang theo người, bị cáo Tạ Kiều O đã tự giác bỏ các đồ vật trong túi khoác giả da màu đen mang theo bên mình và bỏ ra một viên nén màu xanh, khoảng 01cm x 0,25cm giao nộp cho Cơ quan Công an. Viên nén trên bị cáo Oanh khai là ma túy tổng hợp (thường gọi là kẹo). Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh Lào Cai đã tiến hành thu giữ và niêm phong theo quy định, bị cáo Tạ Kiều O tự nguyện ở lại Cơ quan Công an để hợp tác điều tra.
Ngày 26/3/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai tiến hành bắt, tạm giữ bị cáo Tạ Kiều O để điều tra. Quá trình bắt, giữ bị cáo còn thu giữ của bị cáo Tạ Kiều O 01 điện thoại di động Iphone, IMEL: 352982091569080; 01 điện thoại di động Iphone, IMEL: 355358080758645; 01 túi khoác giả da màu đen và 85.000.000 đồng (tám mươi năm triệu đồng) tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam.
Tại kết luận giám định số 67/GĐMT ngày 28/3/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: 0,28 gam viên nén màu xanh gửi đến giám định là loại chất ma túy MDMA. MDMA thuộc danh mục I, số thứ tự 22, Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/07/2013 của Chính phủ về danh mục các chất ma túy và tiền chất.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo Tạ Kiều O tại số nhà 067 đường D thuộc Tổ 8, phường D, thành phố L phát hiện và thu giữ các vật chứng sau:
+ Thu giữ một túi ni lông bên trong chứa 05 viên nén tại ngăn kéo tủ kệ gỗ tại phòng ngủ tầng 2 nơi ở của Tạ Kiều O.
+ Thu giữ tại ngăn kéo trong tủ đứng ở tầng 3 nơi ở của bị cáo Tạ Kiều O một túi ni lông bên trong dựng một túi ni lông trong cùng là các hạt tinh thể màu trắng.
Quá trình khám xét còn thu giữ 01 biển kiểm soát xe ôtô số 24N - 010.93; 01 biển kiểm soát xe ôtô số 24A - 010.93; 02 biển kiểm soát xe ôtô số 30E - 392.74.
Tại kết luận giám định số 73/GĐMT ngày 04/4/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, kết luận:
+ Túi 1 gồm 05 viên không tìm thấy các loại chất ma túy thông thường.
+ Túi 2: 2,68 gam các hạt tinh thể rắn, màu trắng là loại chất ma túy Ketamine.
Ketamine thuộc danh mục III, số thứ tự 35, Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/07/2013 của Chính phủ về danh mục các chất ma túy và tiền chất.
Cáo trạng số 47/CT-VKS ngày 31/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Tạ Kiều O về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tạ Kiều O phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015; điểm s, u khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Tạ Kiều O từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 BLHS 2015, điểm a, c khoản 2 Điều 106 – BLTTHS tịch thu tiêu hủy 0,16 gam MDMA và 2,09 gam Ketamine còn lại sau khi trích mấu giám định; 01 chiếc Biển kiểm soát số 24N - 010.93 không rõ nguồn gốc, không biết là của ai.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Tạ Kiều O: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật thu giữ và kết luận giám định. Khoảng hơn 22 giờ ngày 20/3/2018 tại quán Bar Amazing ở thị trấn Sa Pa có một người phụ nữ khoảng từ 20 tuổi đến 25 tuổi, mặc váy màu xanh (bị cáo không biết tên, địa chỉ của người này) đưa cho bị cáo 01 viên nén màu xanh (tức viên ma túy tổng hợp) để sử dụng, nhưng bị cáo không sử dụng ngay nên bị cáo O bỏ vào túi khoác giả da màu đen mang theo mục đích là sau này sẽ sử dụng thì ngày 23/3/2018 bị Cơ quan công an kiểm tra, phát hiện thu giữ. Theo kết luận giám định, số ma túy thu giữ của bị cáo có tổng khối lượng là 0,28 gam là MDMA.
Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Tạ Kiều O đã đủ yếu tố cấu thành tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ.
Đối với 2,68 gam Ketamine thu giữ tại nhà bị cáo, bản thân bị cáo Tạ Kiều O không thừa nhận là của bị cáo và cũng không biết là của ai. Cơ quan điều tra đã lấy lời khai bà Nguyễn Thị T là người giúp việc của gia đình O và Phạm Văn L là chồng của bị cáo O không ai thừa nhận, cũng không biết là của ai, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý. Bị cáo Tạ Kiều O không phải chịu trách nhiệm đối với số ma túy này, khi nào điều tra làm rõ sẽ xử lý sau.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước ta, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố Lào Cai. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo, qua đó răn đe, phòng ngừa những hành vi tương tự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, ngoài ra bị cáo đã trình báo và cung cấp thông tin để Cơ quan Công an bắt giữ đối tượng mua bán ma túy với số lượng lớn, nên cần áp dụng điểm s, u khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo không cần thiết phải phạt bổ sung, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 0,28 gam MDMA và 2,68 gam ketamine sau khi trích mẫu giám định, còn lại 0,16 gam MDMA và 2,09gam ketamine đã được tái niêm phong theo quy định của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lào Cai. Xét thấy đây thuộc danh mục các chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự là phù hợp.
Đối với 01 chiếc Biển kiểm soát số 24N - 010.93, không rõ nguồn gốc là của ai, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp theo điểm c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 điện thoại di động Iphone, IMEL: 352982091569080; 01 điện thoại di động Iphone, IMEL: 355358080758645; 01 túi khoác giả da màu đen; Tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 85.000.000đồng (tám mươi năm triệu đồng) là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến vụ án nên ngày 29/5/2018 Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo là phù hợp.
Đối với 02 biển kiểm soát xe ôtô số 30E - 392.74 quá trình điều tra xác định là biển số xe của chị Tạ Thị Thùy D (em gái bị cáo Tạ Kiều O) nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Tạ Thị Thùy D là phù hợp.
Đối với người phụ nữ đã đưa ma túy cho bị cáo, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được tên, tuổi, địa chỉ, ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu nào khác để chứng minh, nên không đề cập xử lý là phù hợp.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 249; điểm s, u khoản 1 điều 51 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Tạ Kiều O phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Tạ Kiều O 01 (một) năm tù, khấu trừ cho bị cáo 09 ngày bị tạm giữ. Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt tù là 11 (mười một) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
2.Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Tịch thu tiêu hủy:
- 0,16 gam MDMA còn lại sau giám định được cho vào bì thư in sẵn của phòng KTHS - Công an tỉnh Lào Cai có ghi “ Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ Tạ Kiều O có hành vi phạm tội về ma túy. Phát hiện (thu giữ) ngày 23 tháng 3 năm 2018 tại Tổ 15, phường Nam Cường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai” .
- 2,09 gam Ketamine còn lại sau giám định được cho vào 01 bì thư niêm phong đúng quy định của phòng KTHS - Công an tỉnh Lào Cai có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ Tạ Kiều O có hành vi phạm tội về ma túy. Phát hiện (thu giữ) ngày 30 tháng 3 năm 2018 tại Tổ 8, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai”.
- 01 chiếc Biển kiểm soát số 24N - 010.93.
3.Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Tạ Kiều O phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - VKSTP; - Công an TP; - Sở tư pháp; - Bị cáo; - THADS TP ; - Lưu | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Lan Phƣơng |