vanban.org

Bản án 45/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 11/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Ngọc Trung - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
HUYỆN!T!
TỈNH!T!!
!
Bản án số: 45/2018/HS-ST

Ngày: 11- 9 - 2018

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!T!,!TỈNH!T!!

!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng Các"Hội"thẩm"nhân"dân : Ông Đỗ Trọng Hoành

Ông Lưu Minh Sửu!

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Ngọc Công - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa:" Ông: Đỗ Văn Nam - Kiểm sát viên

Ngày 11 tháng 9 năm 2018 tại Trụ sở UBND xã Nam Giang, huyện Thọ xuân, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2018/TLST - HS ngày 06 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo: Lê Ngọc Trung; Sinh ngày 02 tháng 7 năm 1976 tại xã Nam Giang, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn Phố Neo xã Nam Giang, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ Văn hóa: 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không ; Quốc tịch: Việt Nam Con ông Lê Ngọc Hùng và bà Lê Thị Dệt Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 1. Vợ: Lê Thị Mai, sinh năm 1980. Trú tại: Thôn Phố Neo xã Nam Giang, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Có 03 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2017 Tiền sự: Không. Tiền án: Ngày 04/8/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân xét xử 11 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Ngày 10/02/2016 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2018 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: 1. Anh Tạ Bá Xuân; Sinh năm 1979. Vắng mặt Trú tại : Xóm 3 xã Xuân Lai, huyện Thọ Xuân , tỉnh Thanh Hóa. 2. Anh Nguyễn Đức Vân; Sinh năm 1972. Vắng mặt Trú tại: Xóm 9 xã Nông Trường, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :

Khoảng 11h 45 phút ngày 07/5/2018, Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Thanh Hóa đang làm nhiệm vụ tại khu vực phố Neo, xã Nam Giang, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa thì phát hiện bắt quả tang Lê Ngọc Trung có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Tạ Bá Xuân tại nhà của Trung. Tiến hành khám xét trên người Xuân cơ quan điều tra thu giữ trong túi quần bên phải của Xuân 02 gói bột màu trắng, Xuân khai là heroin vừa mua của Trung với giá 200.000đ. Tiến hành khám xét người Trung cơ quan điều tra thu giữ trong túi quần phía sau của Trung số tiền 200.000đ, Trung khai nhận là tiền bán ma túy cho Xuân.

Cơ quan điều tra đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trung thì thu giữ 01 cân tiểu ly điện tử màu đen và 01 cục hình trụ màu vàng.

Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa đã trưng cầu giám định đối với 02 gói chất bột màu trắng thu được trong người Xuân và 01 cục hình trụ màu vàng thu giữ tại nhà Trung.

Tại bản kết luận giám định số 944/PC54 - MT ngày 12/5/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa đã kết luận: “Chất bột màu trắng trong phong bì niêm phong gửi giám định là chất ma túy, có trọng lượng 0,038g, loại heroin”;

Tại bản kết luận giám định số 951/KLGĐ - PC47 ngày 14/5/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa đã kết luận: “Vật gửi giám định là mô hình lựu đạn luyện tập, không có tác dụng gây nổ”

Vật chứng của vụ án gồm: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định, số tiền 200.000đ; 01 điện thoại Nokia trắng đen đã qua sử dụng, 01 cân tiểu ly điện tử màu đen, 01 cục hình trụ màu vàng hiện đang quản lý và nhập kho vật chứng tại Chi cục Thi hành án huyện Thọ Xuân.

Cáo trạng số 46/VKS -HS ngày 06/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố bị cáo Lê Ngọc Trung về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa bị cáo Trung khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố .

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Ngọc Trung phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Đề nghị áp dụng khoản 1 điều 251; Điểm s khoản 1 điều 51; Điểm h khoản 1 điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Lê Ngọc Trung từ 30(Ba mươi)đến 36(Ba mưới sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 07/5/2018.

Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a, b, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a, b, c khoản 2 điều 106 BLTTHS năm 2015 tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định, 01 cân tiểu ly điện tử màu đen, 01 cục hình trụ màu vàng; 01 chiếc điện thoại nokia đen trắng đã qua sử dụng; Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 200.000đ; Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, bị cáo đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra. Đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Kết luận giám định; Lời khai của những người làm chứng đều phản ánh thống nhất khách quan: Vào khoảng 11h 45 phút ngày 07/5/2018 bị cáo Lê Ngọc Trung đã có hành vi bán 0,038g ma túy, loại heroin cho Tạ Bá Xuân. Do đó hành vi của bị cáo Lê Ngọc Trung đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Lê Ngọc Trung phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Cáo trạng số 46/VKS -HS ngày 06/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét về tính chất của vụ án thì HĐXX thấy rằng: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng.

Xét về mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo HĐXX thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội. Ma túy là cầu nối của đại dịch HIV, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Do đó cần phải xử phạt nghiêm minh mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội. Vì vậy HĐXX áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội.

Khi xem xét về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì HĐXX thấy rằng: Bị cáo có 01 Tiền án: Ngày 04/8/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân xét xử 11 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Ngày 10/02/2016 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự. Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 BLHS. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS năm 2015. Hội đồng xét xử sẽ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.

Xét điều kiện hoàn cảnh gia đình của bị cáo hiện tại kinh tế khó khăn nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Trong vụ án này hành vi mua 0,038g ma túy của Tạ Bá Xuân để sử dụng nhưng không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nên cơ quan điều tra xử lý hành chính là phù hợp.

[ 2] Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án là toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định HĐXX căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 200.000đ là tiền do phạm tội mà có nên căn cứ vào điểm b khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 2 điều 106 BLTTHS tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với chiếc điện thoại Nokia bị cáo dùng liên lạc để bán ma túy nên căn cứ vào điểm a khoản 1 điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 cân tiểu ly điện tử màu đen, 01 cục hình trụ màu vàng là vật không có giá trị sử dụng nên căn cứ vào điểm c khoản 2 điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy.

[ 3] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ vào: Khoản 1 điều 251; Điểm s khoản 1 điều 51; Điểm h khoản 1 điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.! -"Tuyên"bố : Bị cáo Lê Ngọc Trung phạm tội : “Mua bán trái phép chất ma túy”

- Xử"phạt : Bị cáo Lê Ngọc Trung 33(ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 07/5/2018. -"Xử"lý"vật"chứng : Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a, b, c khoản 2 điều 106 BLTTHS năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định 0,029g chất bột màu trắng ngà đựng trong một phong bì do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành - Phong bì niêm phong mẫu vật vụ Lê Ngọc Trung được dán kín niêm phong; 01 cân tiểu ly điện tử màu đen; 01 cục hình trụ màu vàng đựng trong 01 hình hộp chữ nhật được dán kín bằng giấy màu trắng và niêm phong; 01 chiếc điện thoại Nokia đen trắng đã qua sử dụng.

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 200.000đ.

Toàn bộ số vật chứng trên thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng số 46; Phiếu nhập kho số: PNK 46; Phiếu thu số PT 582 ngày 06/8/2018 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân .

- Về"án"phí : Căn cứ khoản 2 điều 136 BLTTHS năm 2015; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH;

Buộc bị cáo Lê Ngọc Trung chịu 200.000đ án phí HSST.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ