- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Đình M - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! HUYỆN!PHÚC!THỌ,!TP!HÀ!NỘI! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2018/HS-ST Ngày: 19 -! 7 - 2018 |
NHÂN!DANH!
NUỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!PHÚC!THỌ,!THÀNH!PHỐ!HÀ!NỘI!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Kiều Duy Chinh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thanh.
Ông Đặng Hữu Tình.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Dũng – Thư ký tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2018/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2018/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:
Vũ Đình M, sinh năm 1994; nơi sinh, nơi cư trú: Cụm 1, xã L, huyện Đ, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đình T và bà Nguyễn Thị Q; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 20/3/2018 đến ngày 23/3/2018; bị cáo tại ngoại (Có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Nguyễn Tiến C, sinh năm 1994; trú tại: Cụm 5, thị trấn P, huyện P, Thành phố Hà Nội (Vắng mặt).
+ Anh Bùi Đức T (Tên gọi khác: Bùi Văn T), sinh năm 1995; trú tại: Cụm 3, xã V, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội (Vắng mặt).
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ ngày 19/3/2018 Vũ Đình M đang ở nhà thì có một người tên là C là bạn xã hội với M (M không biết đầy đủ tên tuổi địa chỉ cụ thể của người này); trú tại huyện B, Thành phố Hà Nội gọi điện cho M và nói “Mai lên Phúc Thọ làm cho chị ” và hẹn ngày mai sẽ đến nhà M để đón. Nghe nói vậy M hiểu là lên thị trấn Phúc Thọ, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội để bán ma túy. Do lúc này M đang cần tiền tiêu xài và muốn đi chơi vài ngày nên đồng ý. Đến khoảng 11 giờ ngày 20/3/2018, C đi xe ôm đến nhà M và hai người ra ngã tư T, huyện H, Thành phố Hà Nội để bắt xe buýt lên thị trấn Phúc Thọ. Khi đến ngã tư Gạch thuộc thị trấn Phúc Thọ thì C và M xuống xe, vào quán nước ven đường ngồi uống nước. Khoảng 05 phút sau thì C có nói M ngồi đợi để C đi có việc; sau gần 01 tiếng C quay lại, lúc này C nói chuyện điện thoại với một ai đó, khi nói chuyện xong thì đưa M 01 điện thoại di động, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên ngoài vỏ bao thuốc lá có cài 01 gói nhỏ nilong ma túy đá và C nói với M “Mày gọi vào số điện thoại này xem nó đang ở đâu rồi mang gói ma túy đá này ra bán cho nó rồi cầm tiền về đây”. M đồng ý và cầm điện thoại, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long mà C đưa cho. Sau đó M gọi vào số điện thoại mà C đã chỉ cho M trước đó, khi M gọi thì anh C nghe máy và M hỏi anh C “Đang ở đâu?”, anh C trả lời “Đang ở quán trà sữa gần ngã tư Gạch”, cùng lúc này M nhìn thấy anh C và anh T đang ở ven đường gần Trạm khuyến nông huyện Phúc Thọ nên M bảo anh C đi lên một đoạn nữa rồi M đi ra gần cổng Trạm khuyến nông huyện Phúc Thọ để gặp anh C và anh T. Khi gặp thì anh C đưa cho M 300.000 đồng, M cầm tiền cất vào túi quần phía trước, sau đó đưa lại cho anh C 01 bao thuốc lá Thăng Long bên ngoài có cài 01 gói ma túy đá, khi C chưa kịp cầm thì bị tổ công tác của Công an huyện Phúc Thọ bắt giữ. Thu giữ tang vật gồm: Một gói nhỏ nilông trong suốt có kích thước 01cm x 01cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng thu của Vũ Đình M, M khai nhận là ma túy đá mang đi bán cho anh Nguyễn Tiến C; một điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA thu của Vũ Đình M; một điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG thu của anh Nguyễn Tiến C; một vỏ bao thuốc lá Thăng Long thu giữ của Vũ Đình M và số tiền 300.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thu giữ của Vũ Đình M.!
Ngày 20/3/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội ra quyết định trưng cầu giám định.!
Tại bản Kết luận giám định số: 2048/KLGĐ-PC54 ngày 21/3/2018 của Phòng PC54 – Công an Thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng trong 01 gói nilong trong phong bì thư, ký hiệu mẫu số 01gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng là 0,312gam.!
Tại bản Cáo trạng số: 50/CT-VKS ngày 21 tháng 6 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Vũ Đình M về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo qui định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. !
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo từ 24 tháng đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong dán kín chứa mẫu vật chứng và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; tịch thu phát mại xung quỹ Nhà nước 02 điện thoại di động đã cũ, tịch thu xung quỹ Nhà nước số tiền 300.000 đồng. Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. !
Bị cáo tại phiên tòa thừa nhận nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là đúng, bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai trái nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
!
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng.
[2]. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Chiều ngày 20/3/2018 tại đường Tỉnh lộ 418, thuộc địa phận cụm 8, thị trấn Phúc Thọ, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội, bị cáo Vũ Đình M có hành vi bán trái phép ma túy thể loại Methamphetamine khối lượng 0,312 gam cho anh Nguyễn Tiến C và anh Bùi Đức C (Tên gọi khác Bùi Văn T) nhằm mục đích kiếm lời thì bị tổ công tác Công an huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội bắt quả tang. Với hành vi như trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
[3]. Xét tính chất mức độ của vụ án: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến việc quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, chất gây nghiện, mặt khác còn gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân dẫn đến tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo tỏ ra ăn năn hối cải. Nên áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[6]. Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
[7]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có điều kiện về kinh tế để thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo qui định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự.!!
[8]. Đối với anh Nguyễn Tiến C là người mua ma túy của bị cáo Vũ Đình M, nhưng trong quá trình trao đổi mua bán ma túy thì anh C chưa nhận được gói ma túy đá mà bị cáo đưa, do đó không có đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó Công an huyện Phúc Thọ đã bàn giao anh C cho Công an thị trấn Phúc Thọ để lập hồ sơ theo Nghị định số: 111/NĐ-CP của Chính Phủ.!
[9]. Đối với anh Bùi Đức T (Tên gọi khác: Bùi Văn T) là người đi cùng anh Nguyễn Tiến C để mua ma túy của bị cáo, nhưng anh T chỉ đi cùng anh C, còn việc trao đổi mua bán thì anh C là người trực tiếp thực hiện và anh C, anh T cũng chưa nhận được gói ma túy mà bị cáo đang đưa cho anh C, do đó không có đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh T, Công an huyện Phúc Thọ đã bàn giao anh T cho Công an xã Võng Xuyên để lập hồ sơ theo Nghị định số: 111/NĐ-CP của Chính Phủ.!
[10]. Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo khai nhận là do người phụ nữ tên C ở huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội đưa cho bị cáo để bán cho anh C và anh T. Do bị cáo không biết đầy đủ họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để tiến hành điều tra xác M đối với người tên C. Vì vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý trong vụ án này, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
[11].!Về vật chứng:!Đối với!một phong bì niêm phong chứa mẫu vật chứng và một vỏ bao thuốc lá Thăng Long không còn giá trị, nên tịch thu tiêu hủy. Đối với một điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA thu giữ của bị cáo và một điện thoại di động hiệu SAMSUNG thu giữ của anh Nguyễn Tiến C; đây là những chiếc điện thoại dùng để liên lạc mua bán ma túy, nên tịch thu phát mại xung quỹ Nhà nước. Đối với số tiền 300.000 đồng, đây là tiền do bị cáo bán ma túy mà có nên tịch thu xung quỹ Nhà nước.
[12]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:!
Căn cứ vào Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Căn cứ Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ vào khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Tuyên bố bị cáo phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Vũ Đình M 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 20/3/2018 đến ngày 23/3/2018.
Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì niêm phong dán kín của Phòng PC54-Công an Thành phố Hà Nội, bên trong chứa vật chứng, bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Tiến C, Vũ Đình M và giám định viên Phòng PC54; 01(Một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng. Tịch thu phát mại xung quỹ Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đã cũ và 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung màu đen đã cũ. Tịch thu xung quỹ Nhà nước số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
(VËt"chøng"do"Chi"cục"thi"hµnh"¸n"d©n"sự huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội"qu¶n"lý" theo"Biªn"b¶n"giao"nhËn"vËt"chøng"ngµy"21/6/2018"và"theo"Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 21/6/2018).
Bị cáo Vũ Đình M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyến lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đê liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hà Nội; - VKSNDThành phố Hà Nội; - VKSND huyện Phúc Thọ; - CCTHADS huyện Phúc Thọ; - Công an huyện Phúc Thọ; - Bị cáo Vũ Đình M; ! - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! ! ! ! ! !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Kiều!Duy!Chinh! |