- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mai Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2018/HS-ST Ngày 14-8-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lại Văn Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Phượng;
Ông Đỗ Việt Hùng.
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Xuyến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Én - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2018/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2018/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:
Mai Văn D, sinh năm 1977 tại xã A; Nơi cư trú: Tổ dân phố số 2, thị trấn Đ, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Thợ xây; Trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mai Xuân T, sinh năm 1948 và bà Đỗ Thị N, sinh năm 1953; có 02 chị em ruột, bị cáo là thứ hai; Vợ là Đỗ Thị M, sinh năm 1984 và 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/6/2018 đến ngày 27/6/2018 thì chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà giữ Công an huyện Hải Hậu.
Người làm chứng:
- Anh Đỗ Xuân U, sinh năm 1971. Địa chỉ: Xóm 6A, xã Hải Thanh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Ông Mai Xuân T, sinh năm 1948. Địa chỉ: TDP số 2, thị trấn Đ, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
(Có mặt bị cáo, ông T; vắng mặt anh U)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và D biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 21/6/2018, Mai Văn D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS 18P8-1274 từ nhà ở của mình thuộc tổ dân phố số 2, thị trấn Đ, huyện Hải Hậu đến xã Hải Thanh tìm mua Heroine để sử dụng. Khi đến khu vực gốc cây Đề thuộc xóm 7, xã Hải Thanh, D gặp và mua 04 Heroine với giá 800.000đ của một thanh niên không quen biết. Khoảng 8 giờ 30 phút cùng ngày, D về đến khu vực xóm 6A, xã Hải Thanh thì bị tổ công tác của Công an huyện Hải Hậu phát hiện bắt quả tang. Quá trình bị kiểm tra bắt giữ, D đã thả từ trên tay trái xuống mặt đường nơi D đang đứng 04 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng, tổ công tác đã tiến hành thu giữ. D khai nhận đó là Heroin D vừa mua với mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác còn thu giữ của D 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS 18P8-1274 và số tiền 1.342.000đ.
Tại bản kết luận giám định số 574/GĐKTHS ngày 21/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 04 gói giấy bạc được niêm phong gửi giám định đều là ma túy, loại ma túy: Heroine. Tổng khối lượng là 0,321 gam.
Cáo trạng số 42/CT-VKSHH ngày 19/7/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định để xét xử đối với bị cáo Mai Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thành khẩn khai nhận đã thực hiện hành vi đúng như nội dung vụ án đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Hả i Hậ u thực hành quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Mai Văn D từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2018; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng của vụ án đã thu giữ trong quá trình điều tra theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu.
Phần tranh luận tại phiên tòa: Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối lỗi và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng. Hành vi của bị cáo còn được chứng mình bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 21/6/2018, tại khu vực xóm 6A, xã Hải Thanh, huyện Hải Hậu, tổ công tác của Công an huyện Hải Hậu đã phát hiện bắt quả tang Mai Văn D đang cất giấu trái phép 04 gói Heroine có tổng khối lượng 0,321 gam để sử dụng cho bản thân. Hành vi nêu trên của Mai Văn D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” mà tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luậ t hì nh sự 2015 như Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố là có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi tàng trữ chất trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý mà còn gây mất trật tự, trị an xã hội. Ma tuý đã và đang gây tác hại xấu cho sức khoẻ của người sử dụng, phá hoại hạnh phúc gia đình và chính ma tuý là nguyên nhân làm gia tăng nhiều loại tội phạm và làm lan truyền nhiều loại bệnh dịch nguy hiểm. Do đó, cần xử lý nghiêm nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Mai Văn D chưa có tiền án, tiền sự nên trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải, bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng, được nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhì, Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng ba, Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng ba nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt như đề nghị của vị Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà hôm nay là phù hợp.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu tại phiên tòa đề nghị áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ, tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm...”. Bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, bản thân nghiện ma túy, đang phải nuôi hai con nhỏ ăn học. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người thanh niên đã bán Heroine cho bị cáo D vào sáng ngày 21/6/2018 tại xóm 7, xã Hải Thanh, huyện Hải Hậu, do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Về xử lý vật chứng: Số tiền 1.342.000đ thu giữ của D, xét đây là số tiền do D làm ăn, tiết kiệm, thu nhập hợp mà có không liên quan đến việc phạm tội và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS 18P8-1274 là tài sản hợp pháp của D, bị cáo đã sử dụng làm phương tiện đi lại cũng không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tuyên trả lại cho bị cáo là phù hợp. Số Heroine trong phong bì thư hoàn trả mẫu vật sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần phải tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
1. Tuyên bố bị cáo Mai Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Xử phạt bị cáo 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2018.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015:
- Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số 574/GĐKTHS ngày 21/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định.
- Trả lại cho Mai Văn D một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS 18P8-1274 và số tiền 1.342.000đ.
(Các vật chứng nêu trên được mô tả như Biên bản bàn giao vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hải Hậu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu và Biên lai thu tiền số 07548 ngày 24/7/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu).
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, buộc bị cáo Mai Văn D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định: 01 bản; - VKSND huyện Hải Hậu: 02 bản; - Chi cục THADS huyện: 01 bản; - THA phạt tù: 02 bản; - Bị cáo: 01 bản; - CA huyện Hải Hậu: 01 bản; - Sở tư pháp: 01 bản; - UBND thị trấn Đ: 01 bản; - Lưu hồ sơ vụ án: 02 bản; - Lưu văn phòng: 01 bản. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Văn Tùng |