- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG TỈNH HÀ GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2018/HS-ST Ngày 09 - 11 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
́
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BĂC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đàm Thị Tư
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Oanh
Bà Khổng Mỹ Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Dạ Lan, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Ông Vi Lương Quỳnh, Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 11 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2018/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2018/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Tuấn T, sinh ngày 11 tháng 12 năm 1976 tại huyện B, tỉnh Hà Giang; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: Thôn T, xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 11/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Song T, sinh năm 1947 và bà Phùng Thị C, sinh năm 1949; có vợ là Chương Thị H, sinh năm 1978 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt ngày 06/7/2018. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện Bắc Quang. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1968; nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang. có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 40 phút, ngày 06/7/2018, tại thôn T, xã V, huyện B, Công an huyện Bắc Quang phát hiện Nguyễn Tuấn T, sinh năm 1976 có dấu hiệu tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Công an huyện Bắc Quang đã thu giữ của T được 01 gói nilon màu đỏ, bên trong gói bằng giấy trắng có chứa chất bột màu trắng tại túi quần bên phải T đang mặc; 01 điện thoại di động Nokia màu đen-trắng; 01 xe máy nhãn hiệu SMASH màu đỏ, biển kiểm soát 23H4-4945. Công an huyện Bắc Quang đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Tuấn T và thu giữ toàn bộ vật chứng để điều tra theo quy định của pháp luật.
Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Quang ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở và đồ vật của Nguyễn Tuấn T ở Thôn T, xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang. Quá trình khám xét, không phát hiện được gì liên quan đến chất ma túy.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Tuấn T khai nhận: Ngày 02/7/2018 T điều khiển xe máy BKS 23H4 -4945 của chị gái là Nguyễn Thị N, sinh năm 1968, trú tại thôn T, xã V, huyện B để hàng ngày đi uống Methadone tại Bệnh viện đa khoa khu vực huyện B, tỉnh Hà Giang, đến khoảng 10 giờ sau khi uống thuốc xong, Nguyễn Tuấn T đi ra cổng bệnh viện ngồi uống nước, sau đó Nguyễn Tuấn T điều khiển xe mô tô đi về nhà, trên đường đi về nhà gặp người tên H đi ngược chiều, Nguyễn Tuấn T gọi H quay lại và hỏi “anh có hàng bán cho em một ít” (tức là hỏi mua ma túy), sau khi trao đổi H đồng ý lấy ở trong túi quần đưa cho Nguyễn Tuấn T 01 gói nilon màu đỏ, bên trong gói bằng giấy trắng có chưa ma túy heroine, T cầm lấy gói nilon và cất vào túi quần bên phải đang mặc, đưa cho H số tiền 200.000 đồng. Sau đó Nguyễn Tuấn T tiếp tục đi về nhà, còn H đi đâu làm gì T không biểt. T để gói ma túy trong túi quần, chưa sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 00 phút ngày 06/7/2018 T tiếp tục điều khiển xe máy BKS 23H4 -4945 mượn của chị N để đi uống thuốc Methadone tại bệnh viện đa khoa khu vục huyện B, uống xong thuốc T điều khiển xe máy đi về nhà chị N để ăn cơm trưa nhưng không thấy ai ở nhà nên Nguyễn Tuấn T đi xe máy trở về nhà, trên đường đi đến khu vực thôn T, xã V, huyện B, thì bị Công an huyện Bắc Quang phát hiện bắt quả tang tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Ngày 06/7/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Quang đã tiến hành cân tịnh chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Tuấn T, có trọng lượng là 0,10 gam ký hiệu M2. Đồng thời gửi số chất bột màu trắng đó đi giám định.
Tại kết luận giám định số: 247/KL-PC54 ngày 14/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang kết luận:
- Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định ký hiệu M2 là ma túy, loại ma túy heroine.
- Heroine nằm trong danh mục I, STT: 9, Nghị định 73/2018/NĐ CP, ngày 15/5/2018 của chính phủ.
Với hành vi trên, tại Cáo trạng số 39/CT-VKSBQ ngày 08/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đã truy tố Nguyễn Tuấn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Tuấn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.
Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Nguyễn Tuấn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Về điều luật và hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn T từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập không ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng, đề nghị căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì bằng giấy trắng được niêm phong bởi 04 (bốn) dấu tròn đỏ cùa Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Giang. Một mặt có ghi dòng chữ “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ: Nguyễn Tuấn T, SN: 1976 trú tại Thôn T, xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang”.
Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với tội danh, điều luật và mức hình phạt mà Kiểm sát viên đã đề nghị trong bản luận tội.
Bị cáo lời nói sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với cộng đồng và người thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên của huyện Bắc Quang trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên toà những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.
Căn cứ định tội, định khung hình phạt:
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Tuấn T tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo, phù hợp với các tài liệu như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 06/7/2018; biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ ngày 06/7/2018; biên bản xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu; biên bản và bàn ảnh mở niêm phong cân tịnh và lấy mẫu vật chứng gửi giám định; kết luận giám định số 247/KL - PC 54 ngày 14/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang cùng tài liê ̣u khác có trong hồ sơ đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Tuấn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Tại Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a)......................
b)......................
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine,MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam
Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thuộc tội phạm nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước trong việc quản lý và sử dụng các chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Chất ma tuý nói chung và hêrôin nói riêng là chất gây nghiện nghiêm trọng, không những huỷ hoại sức khoẻ của người mắc nghiện, hủy hoại đạo đức của con người, mà còn là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Bị cáo là đối tượng nghiện hút, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng do lối sống chơi bời, đua đòi, coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đã mua 01 gói ma tuý để sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ. Căn cứ vào kết quả cân tịnh và kết luận giám định đã xác định tổng trọng lượng Hêrôin bị cáo đã tàng trữ trái phép là 0,10 gam, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đã truy tố. Cần xử lý bị cáo với mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và phòng ngừa chung.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Tuấn T tên H, quá trình điều tra Công an huyện Bắc Quang đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không không xác định được nhân thân nên không có căn cứ để xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tính chất mức độ phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã T khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ngoài ra, trong hồ sơ cũng thể hiện bố mẹ đẻ bị cáo là người có công với nước, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Về nhân thân, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nên cũng được xem xét khi áp dụng mức hình phạt, để thể hiện chính sách khoan hồng đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tuy nhiên trong vụ án này xét thấy bị cáo là người lao động tự do, không có thu nhập ổn định. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Trong vụ án này cơ quan điều tra Công an huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đã thu giữ 01 điện thoại di động Nokia màu đen-trắng, loại bàn phím số và 01 xe mô tô nhãn hiệu SMASH màu đỏ, biển số 23H4-4945, quá trình điều tra Công an huyện Bắc Quang xác định không liên quan đến vụ án và đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu theo biên bản trả lại tài sản ngày 04/9/2018. Tại phiên tòa bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vật chứng thu giữ còn lại gồm: 01 (một) phong bì bằng giấy trắng được niêm phong bởi 04 (bốn) dấu tròn đỏ cùa Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Giang. Một mặt có ghi dòng chữ “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ: Nguyễn Tuấn T, SN: 1976 trú tại Thôn T, xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang”. Hội đồng xét xử xác định là những vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội và là vật cấm tàng trữ, lưu hành, cần căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự, xử tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luâ ̣t.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, khoản 1 Điều 50, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 và Điều 337 của Bộ luật tố Tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn T 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt giữ (ngày 06/7/2018).
3.Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì bằng giấy trắng được niêm phong bởi 04 (bốn) dấu tròn đỏ cùa Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Giang. Một mặt có ghi dòng chữ “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ: Nguyễn Tuấn T, SN: 1976 trú tại Thôn T, xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang”.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan công an huyện Bắc Quang và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Quang ngày 15/10/2018.)
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tuấn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5.Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân dự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh; - VKSND tỉnh Hà giang; - VKSND huyện Bắc Quang; - Công an huyện Bắc Quang; - Chi cục THADS huyện; - Sở tư pháp tỉnh Hà Giang; - UBND xã V; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, THA phạt tù. T VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thị Oanh Khổng Mỹ Hạnh | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đàm Thị Tư THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đàm Thị Tư |