vanban.org

Bản án 45/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thùy L.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thùy L được ly hôn anh Tạ Ngọc H. Về việc nuôi con: Giao con chung là Tạ Huy Hùng, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2005 cho chị Nguyễn Thị Thùy L trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị L và anh H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thùy L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2018/HNGĐ-ST
Ngày 22-8-2018
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hồng Đại

Bà Hà Thị Mão

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Hảo - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Trọng Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 108/2018/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2018 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 591/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thùy L; nơi cư trú: Số 42C/26 tổ dân phố C, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Tạ Ngọc H; nơi ĐKHKTT: Số 212B Đ, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng. Hiện đang thi hành án tại đội 28 phân trại 1 Trại giam Thanh Lâm, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/3/2018, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thùy L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2005, chị và anh Tạ Ngọc H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, gia đình hai bên có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán Việt Nam, có đăng ký kết hôn ngày 29/7/2005 tại Uỷ ban nhân dân phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được 06 năm, đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, lối sống. Từ đó đến nay chị và anh H đã sống ly thân không còn quan hệ về tình cảm, kinh tế nên chị không biết anh H bị Tòa án nào xử về tội gì và mức hình phạt. Từ ngày 12/01/2013 đến nay anh H đang thi hành án tại đội 28 phân trại 1 Trại giam Thanh Lâm, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Tạ Ngọc H.

Về việc nuôi con: Chị xác nhận giữa chị và anh Tạ Ngọc H có một con chung là Tạ Huy Hùng, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2005. Hiện tại anh H đang thi hành án, không có điều kiện cũng như thời gian chăm sóc con. Khi ly hôn chị đề nghị được nuôi con. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về việc chia tài sản: Chị Nguyễn Thị Thùy L xác nhận chị và anh Tạ Ngọc H không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Bị đơn anh Tạ Ngọc H trình bày tại bản tự khai như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Tạ Ngọc H xác nhận về thời gian kết hôn cũng như quá trình chung sống đúng như chị L trình bày. Theo anh vợ cuộc sống vợ chồng bình thường cho đến khi anh đi anh đi thi hành án tại đội 28 phân trại 1 Trại giam Thanh Lâm, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa thì vợ chồng xa cách. Nay chị L có đơn xin ly anh đồng ý ly hôn và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Về việc nuôi con: Anh Tạ Ngọc H xác nhận giữa anh và chị Nguyễn Thị Thùy L có một con chung là Tạ Huy Hùng, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2005. Anh đồng ý giao con cho chị L nuôi. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về việc chia tài sản: Anh Tạ Ngọc H và chị Nguyễn Thị Thùy L xác nhận không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tòa án đã thu thập chứng cứ đối với gia đình chị L và anh H: Về quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Tạ Ngọc H, thể hiện: Chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Tạ Ngọc H có mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do vợ chồng bất đồng quan điểm, lối sống. Chính vì vậy tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Từ năm 2011 đến nay chị L và anh H đã sống ly thân. Hiện anh H đang thi hành án tại đội 28 phân trại 1 Trại giam Thanh Lâm, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Gia đình đều xác nhận chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Tạ Ngọc H có một con chung là Tạ Huy Hùng, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2005. Khi ly hôn đề nghị Tòa án giao con cho chị L nuôi; về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Tạ Ngọc H không có tài sản chung.

Tại phiên tòa, chị L giữ nguyên quan điểm như trong đơn khởi kiện và bản tự khai.

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết từ giai đoạn thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn tuân thủ đúng quy định của pháp luật; bị đơn anh Tạ Ngọc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đã có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt anh Tạ Ngọc H theo quy định khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng có quan điểm: Mâu thuẫn của chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Tạ Ngọc H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 và các điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị định số 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thùy L, chị Nguyễn Thị Thùy L được ly hôn anh Tạ Ngọc H; về việc nuôi con: Chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Tạ Ngọc H có một con chung là Tạ Huy Hùng, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2005. Do anh H đang thi hành án không có điều kiện chăm sóc con, nên giao con cho chị L trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Tạ Ngọc H không yêu cầu Tòa án giải quyết; về việc chia tài sản: Chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Tạ Ngọc H không yêu cầu Toà án giải quyết; về án phí: Chị Nguyễn Thị Thùy L phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng dân sự:

+ Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Đây là quan hệ pháp luật về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn anh Tạ Ngọc H cư trú tại địa bàn quận Ngô Quyền nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về thời hạn giải quyết vụ án:

Ngày 29 tháng 3 năm 2018, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng thụ lý vụ án; đến ngày 27 tháng 7 năm 2018, Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Như vậy, Tòa án đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về sự vắng mặt của bị đơn:

Bị đơn anh Tạ Ngọc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đã có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt anh Tạ Ngọc H theo quy định khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Tạ Ngọc H được xác lập từ ngày 29 tháng 7 năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.

Quá trình chung sống chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Tạ Ngọc H có thời gian đầu vợ chồng sống hòa thuận, đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, lối sống. Từ đó chị và anh H sống ly thân không còn quan hệ về tình cảm cũng như kinh tế. Từ ngày 12/01/2013 đến nay anh H đang thi hành án tại đội 28 phân trại 1 Trại giam Thanh Lâm, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thùy L.

Về việc nuôi con: Chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Tạ Ngọc H có một con chung là Tạ Huy Hùng, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2005. Hội đồng xét xử xét thấy: Anh Tạ Ngọc H đang thi hành án, không có điều kiện chăm sóc con. Mặt khác, để đảm bảo sự ổn định về mặt tâm lý, sự phát triển về mọi mặt cho con con, nên giao cho chị Nguyễn Thị Thùy L nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị L và anh H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về việc chia tài sản: Chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Tạ Ngọc H đều xác nhận không có tài sản chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí:

Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Thị Thùy L phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo:

Chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Tạ Ngọc H được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thùy L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thùy L được ly hôn anh Tạ Ngọc H.

2. Về việc nuôi con: Giao con chung là Tạ Huy Hùng, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2005 cho chị Nguyễn Thị Thùy L trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Tạ Ngọc H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về việc chia tài sản: Chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Tạ Ngọc H không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thùy L phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014517 ngày 29 tháng 3 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị Thùy L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Chị Nguyễn Thị Thùy L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Anh Tạ Ngọc H vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND quận Ngô Quyền;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Chi cục THADS quận Ngô Quyền;

- UBND phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng (CNKH ngày 29/7/2005);

- Đương sự;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

Nguyễn Bích Phượng CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bích Phượng

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bích Phượng

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bích Phượng

Cỡ chữ