- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn và nuôi con giữa chị Trần Thị Thanh T và anh Nguyễn Văn L"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Thanh T đối với anh Nguyễn Văn L.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2018/HNGĐ-ST Ngày: 14-9-2018. V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Lãm.
2. Ông Trần Hùng Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Cao Cường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Ngô Minh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 221/2018/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2018 về tranh chấp ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2018/QĐXX-ST ngày 24 tháng 8 năm 2018 và Thông báo hoãn phiên tòa số: 07/TB-TA ngày 06 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thanh T, sinh năm 1987;
Địa chỉ cư trú: Khu phố A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1985;
Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh. có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 7 năm 2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Trần Thị Thanh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh L có tìm hiểu, quen biết và tổ chức lễ cưới vào năm 2015, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh vào ngày 07 tháng 8 năm 2015. Vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến tháng 01 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh L thường xuyên chơi cờ bạc, không lo làm ăn, chị đã khuyên can nhiều lần nhưng anh L vẫn không thay đổi, vì vậy vợ chồng thường xuyên gây gỗ nhau, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nữa. Chị và anh L ly thân từ tháng 01 năm 2018 cho đến nay. Trong thời gian ly thân hai anh chị cũng không hòa giải, hàn gắn gia đình được. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn L.
Về con chung: Chị và anh L có một con chung tên Nguyễn Trần Chí T, sinh ngày 16 tháng 11 năm 2017. Hiện tại con chung đang chung sống với chị. Nay ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con chung, chị không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị T chung sống với nhau vào năm 2015, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh vào ngày 07 tháng 8 năm 2015. Vợ chồng anh chung sống hạnh phúc đến tháng 01-2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng chung sống không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày. Ngoài ra thì anh có chơi cờ bạc nên vợ chồng thường xuyên gây gỗ nhau, vợ chồng ly thân từ tháng 01-2018 cho đến nay, không có biện pháp khắc phục, hàn gắn gia đình. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể sống chung với nhau được nữa nên anh đồng ý ly hôn với chị Trần Thị Thanh T.
Về con chung: Anh và chị T có một con chung tên Nguyễn Trần Chí T, sinh ngày 16 tháng 11 năm 2017. Hiện tại con chung đang chung sống với chị T. Nay ly hôn, anh đồng ý giao con chung cho chị T nuôi, anh không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Anh trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên Tòa trình bày:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử: Thẩm phán, thư ký thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền, việc thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành và thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Văn L có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh L là đúng theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B chưa thấy vấn đề vi phạm tố tụng nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử theo quy định.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thanh T, cho chị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn L. Áp dụng Điều 81, Điều 82 và Điều 83 giao cháu Nguyễn Trần Chí T, sinh ngày 16 tháng 11 năm 2017 cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị T không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung chị T, anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về nợ chung chị T, anh L trình bày không có nên không xem xét giải quyết. Về án phí hôn nhân sơ thẩm chị T phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án do các bên cung cấp, qua kết quả thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh L theo quy định tại Khoản 1 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Về hôn nhân: Chị T và anh L trên cơ sở tự nguyện và đi đến hôn nhân từ năm 2015 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh vào ngày 07 tháng 8 năm 2015 nên hôn nhân của chị T và anh L là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T có đơn xin ly hôn với anh L. Quá trình xác minh cho thấy, việc chị T và anh L thường xuyên phát sinh mâu thuẫn và gây gỗ nhau nhiều lần là có, hiện tại cả hai anh chị đã ly thân từ tháng 01 năm 2018 cho đến nay. Trong thời gian ly thân cả hai anh chị cũng không có giải pháp khắc phục hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, cho chị T được ly hôn với anh L là phù hợp.
Về con chung: Chị Trần Thị Thanh T và anh Nguyễn Văn L có 01 con chung tên Nguyễn Trần Chí T, sinh ngày 16 tháng 11 năm 2017 . Nay ly hôn chị T yêu cầu được nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu T hiện còn nhỏ tuổi, cần sự chăm sóc và giáo dục của người mẹ và hiện tại cháu T đang sống chung với chị T, do vậy cần giao cháu T cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn, chị T không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con. Dù Hội đồng xét xử đã giải thích quyền và nghĩa vụ của cha mẹ trong việc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn cho chị T nghe nhưng chị T vẫn giữ nguyên ý kiến không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con chung do vậy nên ghi nhận.
Anh Nguyễn Văn L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở..
Về tài sản chung: Chị Trần Thị Thanh T và anh Nguyễn Văn L không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Chị Trần Thị Thanh T và anh Nguyễn Văn L trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Thanh T đối với anh Nguyễn Văn L.
Chị Trần Thị Thanh T được ly hôn với anh Nguyễn Văn L.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trần Chí T, sinh ngày 16 tháng 11 năm 2017 cho chị Trần Thị Thanh T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Nguyễn Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu.
Anh Nguyễn Văn L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Chị Trần Thị Thanh T và anh Nguyễn Văn L không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Chị Trần Thị Thanh T và anh Nguyễn Văn L trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.
5. Về án phí: Chị Trần Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0021535 ngày 09 tháng 7 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Tây Ninh. Chị T đã nộp xong tiền án phí hôn nhân sơ thẩm.
Anh Nguyễn Văn L không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Chị T có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Anh L có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện B; - Lưu hồ sơ vụ án./. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Vân |