vanban.org

Bản án 45/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đ đƣợc ly hôn với anh Lê Văn P.

Về con chung: 1 Giao con chung tên Lê Nguyễn Thị Hoài P, sinh ngày 07/5/2010 cho chị Nguyễn Thị Đ trực tiếp nuôi dƣỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyen Thi Đ - Lê Văn P tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đ đƣợc ly hôn với anh Lê Văn P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 45/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 07/7/2017
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Nguyệt Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Hồng Gấm;

2. Bà Nguyễn Ngọc Diệp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam – Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên

Ngày 07 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã D xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 43/2017/TLST - HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2017 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 44/2017/QĐST - HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2017/QĐST - HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2017 giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1987; thƣờng trú: Thôn 4, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; tạm trú: Số 2/1/9A, khu phố Đ, phƣờng B, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Lê Văn P, sinh năm 1984; thƣờng trú: Thôn 6, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam; tạm trú: Số 8/1A, khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 13 tháng 01 năm 2017 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Đ trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đ và anh Lê Văn P tƣ̣ nguyện chung sống , có tổ chƣ́ c đám cƣớ i và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam theo giấy chứng nhận kết hôn số 94 quyển số 02 ngày 31 tháng 12 năm 2009.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chuyển đến sinh sống tại thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Anh P làm thợ xây thu nhập bình quân một tháng khoảng 8.000.000 đồng, chị Đ làm công nhân giày da thu nhập bình quân mỗi tháng khoảng 5.000.000 đồng. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2013 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm dẫn đến việc thƣờng xuyên cải nhau, ông Phúc quen ngƣời phụ nữa khác và bản thân chị Đ không hòa hợp đƣợc với mẹ chồng dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn nên đã ly thân từ cuối năm 2013 cho đến nay. Chị Nguyễn Thị Đ xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Lê Văn P.

- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng anh có 01 con chung tên: Lê Nguyễn Thị Hoài P, sinh ngày 07/5/2010 hiện đang sống cùng chị. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi con và yêu cầu anh P cấp dƣỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng.

- Về tài sản chung: Chị và anh P tự thỏa thuận không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Chị và anh P tự thỏa thuận không yêu cầu tòa án giải quyết.

Tại đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện ngày 17/3/2017, chị Nguyễn Thị Đ không yêu cầu anh Lê Văn P cấp dƣỡng nuôi con.

Quá trình tố tụng, bị đơn anh Lê Văn P đã đƣợc Tòa án tống đạt thông báo thu ̣ lý , triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào các ngày 04/4/2017, ngày 18/5/2017 và tham gia phiên tòa vào các ngày 16/6/2017 và ngày 07/7/2017 nhƣng anh Lê Văn P vắng mặt không có lý do.

- Ngày 07/3/2017, Tòa án xác minh nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị Đ với anh Lê Văn P. Theo thông tin bà Vƣơng Thị Hồng T, hội phụ nữ phƣờng T, thị xã D cung cấp: Chị Đ và anh P trƣớc khi nộp đơn khởi kiện, Tòa án cũng không có yêu cầu hòa giải tại UBND phƣờng nên thực tế hoàn cảnh gia đình, mâu thuẫn phát sinh, công việc cũng nhƣ con chung giữa chị Đ và anh P nhƣ thế nào Hội phụ nữ không rõ.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D tham gia phiên tòa:

+ Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán đƣợc phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã đƣợc thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình giải quyết vụ án.

+ Về nội dung: Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đối với bị đơn anh Lê Văn P nhƣng anh P vẫn vắng mặt không có lý do chứng tỏ anh P không quan tâm đến hạnh phúc gia đình, mâu thuẫn vợ chồng đã nghiêm trọng. Căn cứ các Điều 56, 81,82, 83 Luật Hôn nhân gia đình, có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Đ.

+ Về con chung đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung Lê Nguyễn Thị Hoài P cho chị Đ trực tiếp nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Đ không yêu cầu anh P cấp dƣỡng nuôi con.

PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đƣợc xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhân dân thị xã D nhận định:

[1] Về điều kiện thụ lý vụ án: Chị Nguyễn Thị Đ có đơn yêu cầu giải quyết việc hôn nhân và con chung giữa anh với anh Lê Văn P sinh sống tại phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Vì vậy, đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Sự vắng mặt của đƣơng sự: Tòa án đã triệu tập và niêm yết hợp lệ đối với bị đơn anh Lê Văn P để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào các ngày 04/4/2017, ngày 18/5/2017 và tham gia phiên tòa vào các ngày 15/6/2017, ngày 05/7/2017 nhƣng anh P vắng mặt không có lý do. Ngày 24/5/2017, chị Đ có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án xét xử vắng mặt chị Đ và anh P.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đ và anh Lê Văn P là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 94, quyển số 02 vào ngày 15 tháng 22 năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị Đ cho rằng mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị do tính tình không hợp nhau nên bất đồng quan điểm, dẫn đến anh chị thƣờng xuyên cải nhau, tình cảm vợ chồng không còn. Quá trình tòa án thụ lý vụ án anh P không cung cấp chứng cứ cũng không tham gia hòa giải theo giấy triệu tập của tòa án, điều này chứng tỏ anh P không còn quan tâm và không muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình. Mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt đƣợc mục đích đó vợ chồng phải thƣơng yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Quá trình tố tụng chị Đ đều trình bày cuộc sống chung vợ chồng giữa chị Đ và anh P xảy ra nhiều mâu thuẫn vì nhiều lý do khác nhau ông P có quen ngƣời phụ nữ khác, chị Đ gặp áp lực do không thể hòa hợp đƣợc với gia đình bên chồng. Chị Đ, anh P đã có thời gian ly thân từ cuối năm 2013 đến nay, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau, điều này chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Đ, anh P đã trầm trọng, mục đích của cuộc hôn nhân không đạt đƣợc nên yêu cầu ly hôn của chị Đính là có cơ sở chấp nhận.

[4] Về con chung: Chị Đ và anh P có 01 con chung, hiện nay đang ở cùng chị Đ và chị có nguyện vọng đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung và không yêu cầu anh P cấp dƣỡng nuôi con. Xét thấy, từ khi chị Đ, anh P sống ly thân đến nay, cháu Lê Nguyễn Thị Hoài P đều do chị Đ trực tiếp nuôi dƣỡng và cháu vẫn đƣợc tạo điều kiện phát triển tốt về mọi mặt nhƣ vẫn đƣợc đi học, tham gia sinh hoạt các trò vui chơi, giải trí phù hợp lứa tuổi của cháu, tại bản tự khai ngày 27/02/2017, cháu Lê Nguyễn Thị Hoài P, sinh ngày 07/5/2010 cũng có nguyện vọng đƣợc ở với mẹ sau khi bố mẹ ly hôn. Vì vậy, yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung của chị Đ là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về cấp dƣỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Đ không yêu cầu anh P cấp dƣỡng nuôi con.

[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Đ và anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Từ những phân tích trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D là có cơ sở chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đ phải chịu án phí ly hôn theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, các Điều 271, 273, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 15, 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đ đƣợc ly hôn với anh Lê Văn P.

2. Về con chung:

2.1 Giao con chung tên Lê Nguyễn Thị Hoài P, sinh ngày 07/5/2010 cho chị Nguyễn Thị Đ trực tiếp nuôi dƣỡng.

Sau khi ly hôn chị Đ và anh P đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Chị Đ phải tạo điều kiện cho anh P trong việc thăm nom, chăm sóc con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và mức cấp dƣỡng nuôi con.

2.2 Về cấp dƣỡng nuôi con: Anh P không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Đ phải chi ̣u 300.000 (ba trăm nghin) đồng án phí lỳ hôn đƣợc khấu trƣ̀ vào tiền ta ̣m ƣ́ ng án phi đá

̃ nô ̣p theo biên lai số 0008765 ngày 24 tháng 01 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

Cỡ chữ